vanban.org

Bản án 22/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 25/10/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc S phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 02 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 08/8/2025. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 nghị quyết 326/2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Vũ Ngọc … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Ngọc S phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc s…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc S phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 256a Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-ST
Ngày 25/9/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Giàng Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Đỗ Trọng Bằng

- Bà Nguyễn Thị Thu Hường

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Hà – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Bùi Mạnh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/TLST- HS ngày 05

tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lào Cai đối với bị cáo:

Vũ Ngọc S; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 18/10/1968 tại B, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn K, xã B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn B (đã chết) và con bà Lê Thị H (đã chết). Gia đình có năm anh chị em, bị cáo là con thứ năm.

Bị cáo có vợ là Đặng Thị H1, sinh năm 1970; cư trú tại Thôn K, xã B, tỉnh Lào Cai; Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2006.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bị cáo bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 901 từ ngày 11/4/2013 đến ngày 11/4/2014 chấp hành xong, đến nay đã được xóa tiền sự. Bị cáo Vũ Ngọc S bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Anh Vương Văn K, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn B, xã B, tỉnh Lào Cai. (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 08/8/2025, Công an xã B, tỉnh Lào Cai phối hợp với Trạm y tế xã Bát Xát, tiến hành kiểm tra định kỳ đối với Vũ Ngọc S (sinh năm 1968; trú tại thôn K, xã B, tỉnh Lào Cai), là người đang trong quá trình điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone, theo quy định của Luật Phòng, chống ma túytại Cơ sở 3 trong 1 - Bệnh viện Đ từ ngày 08/12/2023 đến nay. Kết quả xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể của Vũ Ngọc S dương tính với ma túy M. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã thu mẫu nước tiểu của Vũ Ngọc S, tiến hành niêm phong và trưng cầu giám định tại Trung tâm pháp y thành phố H. Bản thân Vũ Ngọc S thừa nhận đã sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức "hút" trong nhà vệ sinh ở nhà của bị cáo tại thôn K, xã B, tỉnh Lào Cai vào ngày 05/8/2025.

Về nguồn gốc ma túy Vũ Ngọc S khai nhận: Ngày 03/8/2025, S cùng Vương Văn K bắt xe khách lên chợ M1, đến nơi S đưa cho K 500.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng; 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng) để đi mua ma túy về sử dụng. K cầm tiền, bảo S đứng đợi, rồi một mình đi vào trong chợ T mua được một gói ma túy Heroine, được gói bên ngoài bằng giấy với giá 500.000 (năm trăm nghìn) đồng của một người phụ nữ cao khoảng 1,5 mét, người gầy, bé. Đến khoảng 10 giờ 30 cùng ngày, K quay lại cùng S bắt xe khách về B, cả hai đi bộ ra khu vực nghĩa trang thuộc thôn B xã B, K dùng móng tay chia đôi gói ma túy đã mua được cho mỗi người một nửa, cả hai cất giấu vào túi quần đang mặc rồi đi về nhà. Đến ngày 05/8/2025, Vũ Ngọc S vào nhà vệ sinh trong nhà riêng của mình, mở gói ma túy, đổ ma túy Heroine vào giấy bạc lấy từ bao thuốc lá, dùng bật lửa gas đốt bên dưới cho đến khi có khói trắng bay lên, cho miệng vào hút hết khói trắng vào trong cơ thể. Sử dụng xong, S vứt giấy gói ma túy và giấy bạc vào trong bồn cầu rồi xả nước, còn chiếc bật lửa Sáu không nhớ đã để ở đâu. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vũ Ngọc S đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại kết luận giám định số 571/2025/KLGDĐC-TTPY ngày 10/8/2025 của Trung tâm pháp y thành phố H kết luận: Trong mẫu nước tiểu thu giữ của Vũ Ngọc S gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Morphine.

Cáo trạng số 15/CT- VKSKV7 ngày 04/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai truy tố Vũ Ngọc S về tội "Sử dụng trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai giữ nguyên quyết định truy tố Vũ Ngọc S về tội danh theo bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc S phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy", xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù.

Về vật chứng: Mẫu nước tiểu thu giữ của Vũ Ngọc S gửi giám định (đã sử dụng hết), sau khi lấy mẫu giám định cơ quan giám định tiêu hủy theo quy định, không trả lại cho cơ quan trưng cầu, không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

Đối với Vương Văn K sau khi đi mua ma túy cùng với Vũ Ngọc S, K đã cất giấu ma túy trong phòng ngủ tại nhà ở thôn B, xã B, tỉnh Lào Cai, đến ngày 04/8/2025. K đã sử dụng hết số ma túy này bằng hình thức hít. Ngày 06/8/2025, K bị Công an xã B kiểm tra và phát hiện dương tính với ma túy. Công an xã B lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Lào Cai đối với Vương Văn K, nên không đề cập xử lý.

Đối với người phụ nữ cao khoảng 1,5 mét, người gầy đã bán ma túy cho Vương Văn K, ngoài lời khai của K ra, không có tài liệu gì khác chứng minh, Cơ quan điều tra không điều tra làm rõ được, không đề cập xử lý.

Tại phiên tòa bị cáo Vũ Ngọc S đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai đã truy tố đối với bị cáo, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Ngọc S: Ngày 05/8/2025 Vũ Ngọc S đã có hành vi sử dụng ma túy Heroine bằng hình thức hút trong nhà vệ sinh tại nhà riêng của bị cáo. Bị cáo Vũ Ngọc S là người đang trong quá trình điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone, theo quy định của Luật Phòng, chống ma túyCơ sở 3 trong 1 - Bệnh viện Đ từ ngày 08/12/2023. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai truy tố bị cáo Vũ Ngọc S về tội "Sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo nhận thức được ma túy là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS. Hậu quả, tác hại do ma tuý gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế – xã hội và an ninh trật tự của địa phương, làm huỷ hoại sức khoẻ dẫn đến mất khả năng lao động, suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình. Bị cáo đang trong quá trình điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone, theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy tại Cơ sở 3 trong 1 - Bệnh viện Đ từ ngày 08/12/2023. Do thiếu ý thức chấp hành pháp luật, bị cáo vẫn thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 901 từ ngày 11/4/2013 đến ngày 11/4/2014 chấp hành xong, đã được xóa tiền sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có anh trai là Vũ Ngọc V (sinh năm 1960; trú tại thôn K, xã B, tỉnh Lào Cai), là Bệnh binh và được Bộ Q tặng thưởng Huân chương chiến công hạng nhất. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Xử phạt bị cáo với mức án từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để răn đe, đồng thời tạo điều kiện để bị cáo được giáo dục, cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về vật chứng: Mẫu nước tiểu thu giữ của Vũ Ngọc S gửi giám định (đã sử dụng hết), sau khi lấy mẫu giám định cơ quan giám định tiêu hủy theo quy định, không trả lại cho cơ quan trưng cầu. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với Vương Văn K sau khi đi mua ma túy cùng với Vũ Ngọc S, K đã cất giấu ma túy trong phòng ngủ tại nhà ở thôn B, xã B, tỉnh Lào Cai, đến ngày 04/8/2025. K đã sử dụng hết số ma túy này bằng hình thức hít. Ngày 06/8/2025, K bị Công an xã B kiểm tra và phát hiện dương tính với ma túy. Công an xã B lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Lào Cai đối với Vương Văn K. Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Đối với người phụ nữ cao khoảng 1,5 mét, người gầy đã bán ma túy cho Vương Văn K, ngoài lời khai của K ra, không có tài liệu gì khác chứng minh, Cơ quan điều tra không điều tra làm rõ được. Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc S phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 02 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 08/8/2025.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 nghị quyết 326/2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Vũ Ngọc S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ