- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Năm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố Lê Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”,
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2025/HSST Ngày: 18/9/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Như Hoa
Ông Phạm Quốc Trung
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Nga
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ tham gia phiên tòa : ông Hoàng Mạnh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2021/TLST-HS ngày 04/9/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Văn N; sinh ngày 20 tháng 11 năm 1968; Tại: Hà Nội
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 12 (phường Đồng Tiến cũ), phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Số CCCD: 001068021321, cấp ngày 01 tháng 3 năm 2023; Nơi cấp: Cục C06, Bộ Công an; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Đ (đã chết) và bà Lê Thị Tốn (đã chết); Vợ: Lê Thị M, sinh năm 1974; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1993 con nhỏ sinh năm 1995.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/5/2025 đến ngày 29/5/2025 tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hòa Bình (Nay là Trại tạm giam số 3, tỉnh Phú Thọ). Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1972, trú tại tổ 2 (phường Phương Lâm cũ), phường Hòa Bình, Phú Thọ. Có mặt.
- Người làm chứng: Ông Trương Nhất Q sinh năm 1987, trú tại tổ 6 (phường Đồng Tiến cũ), phường Hòa Bình, Phú Thọ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 20/5/2025, tại tổ 12 (phường Đồng Tiến cũ), nay là phường Hòa Bình, Phú Thọ. Lê Văn N, đi chợ về nhìn thấy Huỳnh Ngọc T, và Trương Nhất Q, đang có hành vi hái trộm 01 (một) quả mít trên cây Mít của gia đình Lê Văn N trồng trước nhà khoảng 10 năm về trước, N nhìn thấy Q đang ở trên cây hái mít còn T đang đứng dưới đất đỡ quả mít, thấy vậy N đi đến chuồng lợn phía sau nhà lấy 01 (một) gậy kim loại, kích thước 70x3(cm) cầm trên tay phải đi ra với mục đích ngăn chặn hành vi trộm cắp và yêu cầu T, Q đi cùng N đến Cơ quan Công an giải quyết. Lúc này N và T có cãi vã chửi bới và giằng co gậy N đang cầm trên tay. Trong lúc giằng có T dùng chân đạp N 01(một) phát nhưng không trúng, N cầm gậy kim loại trên tay phải vụt một phát trúng vào cẳng chân phải của T gây thương tích, sự việc chấm dứt, N về nhà ném gậy kim loại đó vào vườn.
Sau khi sự việc xảy ra, đến 15 giờ 30 phút ngày 20/5/2025 Lê Văn N đến Công an phường Đồng Tiến (cũ) đầu thú. Huỳnh Ngọc T được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bênh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình từ ngày 20/5/2025 đến ngày 22/5/2025 thì xuất viện.
Ngày 21/5/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hòa Bình đã ra quyết định trưng cầu giám định số 1770/QĐ-VPCQCSĐT đối với thương tích của Huỳnh Ngọc T.
Ngày 28/5/2025 Trung tâm pháp y tỉnh Hòa Bình có kết luận giám định số 85/KLTTCT-TTPY về thương tích của Huỳnh Ngọc T như sau:
"1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Gẫy 1/3 xương chày chân phải.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/9/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Huỳnh Ngọc Thắng tại thời điểm giám định là 13% (Mười ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Đặc điểm vật gây thương tích: Vật tày."
Ngày 21/5/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hòa Bình đã ra yêu cầu định giá tài sản số 3225/YC-VPCQCSĐT đối với quả mít nhà Lê Văn N.
Ngày 11/6/2025 Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự
- UBND thành phố Hòa Bình có kết luận định giá tài sản đối với quả mít nhà Lê Văn N như sau: 01 quả mít nặng 5,5kg, dài 35cm, rộng 19cm, sâu 17cm có giá 82.000 đồng (Tám mươi hai nghìn đồng chẵn).
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) thanh kim loại hình trụ tròn, rỗng ruột, dài 73cm, đường kính 3,3cm, một đầu được đập dẹt kích thước 19x3,8(cm), tình trạng đã qua sử dụng đã chuyển giao cho Phòng Thi hành án khu vực 12, tỉnh Phú Thọ chờ xử lý.
- 01(một) quả mít nặng 5,5kg, kích thước 35x19x17(cm). Đã trả lại cho gia đình Lê Văn Năm.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Văn N đã bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khỏe, tinh thần, chi phí khám chữa bệnh cho ông Huỳnh Ngọc T số tiền 70.000.000 đ (Bảy mươi triệu đồng) Ông T đồng ý và không có yêu cầu gì khác.
Cáo trạng số 08/CT-VKSKV12 ngày 03/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ truy tố bị cáo Lê Văn N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Về trách nhiệm hình sự:
Đề nghị áp dụng quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự tuyên Lê Văn N phạm tội Cố ý gây thương tích; Xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo.Buộc bị cáo phải chịu thử thách.
Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 (một) thanh kim loại hình trụ tròn, rỗng ruột, dài 73cm, đường kính 3,3cm, một đầu được đập dẹt kích thước 19x3,8(cm), tình trạng đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: không đề cập xử lý.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2032; bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại đều nhất trí, không có ý kiến tranh luận gì.
Trình bày lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật và xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu được cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể: Do do bức xúc trong việc bị Huỳnh Ngọc T và Trương Nhất Q trộm tài sản là quả mít của gia đình mình nên bị cáo đã có hành vi dùng gậy kim loại (Hung khí nguy hiểm) đánh vào cẳng chân phải gây thương tích tổn hại 13% sức khỏe cho ông Huỳnh Ngọc T.
Như vậy Hành vi của bị cáo Lê Văn N đã phạm vào tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 134 BLHS như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, ý thức được việc cố ý gây thương tích cho người khác là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ.
Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra, truy tố bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra, đã bồi thường thỏa đáng thiệt hại cho bị hại, bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
Bị cáo Lê Văn N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ những phân tích trên, HĐXX xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo mà không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nên việc áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng không ảnh hưởng đến công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm chung.
Về vật chứng:
- Đối với 01 (một) thanh kim loại hình trụ tròn, rỗng ruột, dài 73cm, đường kính 3,3cm, một đầu được đập dẹt kích thước 19x3,8(cm), đây công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01(một) quả mít nặng 5,5kg, kích thước 35x19x17(cm), đã trả lại tài sản cho gia đình Lê Văn Năm, HĐXX không xem xét.
Về Trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tinh thần, chi phí khám chữa bệnh cho ông Huỳnh Ngọc T số tiền 70.000.000 đ (Bảy mươi triệu đồng). Ông T đồng ý và không có yêu cầu gì khác. Do đó HĐXX không đề cập giải quyết.
Về các nội dung khác:
Đối với Huỳnh Ngọc T và Trương Nhất Q có hành vi trộm cắp tài sản là quả mít trị giá 82.000 đồng và nhân thân không có tiền án tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan CSĐT đã đề nghị Công an phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ ra quyết định xử phạt hành chính là phù hợp, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: bị cáo Lê Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố Lê Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”,
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn N 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 ( Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao Bị cáo Lê Văn N cho Ủy ban nhân dân phường Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường trong việc giám sát, giáo dục người chấp hành án. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp hình phạt với bản án trước theo quy định tại Điều 55,56 Bộ luật hình sự
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thanh kim loại hình trụ tròn, rỗng ruột, dài 73cm, đường kính 3,3cm, một đầu được đập dẹt kích thước 19x3,8(cm)
(Chi tiết về đặc điểm, tình trạng của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 111/BB- GNVC/2025 ngày 11 tháng 9 năm 2025 của giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC02) Công an tỉnh Phú Thọ và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 – Phú Thọ)
5. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh PT; - VKSND tỉnh PT; - VKSND KV 12; - CQ THADS tỉnh PT; - Phòng THADS KV12; - Phòng PC10, PC 02 – CAT; - Phòng PV06, CAT; - UBND phường Hòa Bình; - Bị cáo, người tham gia tố tụng; - Lưu HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Thị Ngọc Hà THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |