vanban.org

Bản án 22/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 14/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng Minh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Trương Hoàng M 01 năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam vào ngày 28/5/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng Minh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC X - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HSST
Ngày: 14/8/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH K – THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồmcó:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Hồng T

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh H

2. Ông Nguyễn Tấn T

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ An T - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực X - Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 8 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Khu vực X - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2025/TLST- HS ngày 24 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2025/QĐXX-HS ngày 31 tháng 7 năm 2025 đối với bịcáo:

TRƯƠNG HOÀNG M; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 28 tháng 8 năm 1991; Nơi sinh tại: Hậu G; Nơi cư trú: ấp Thị T, thị trấn Bảy N, huyện Châu T, tỉnh Hậu Giang (địa chỉ hiện nay: Ấp Thị T, xã Tân H, thành phố Cần Thơ); Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Trương Thanh H, không rõ sinh năm (chết); Họ và tên mẹ: Trần Thị Ú, sinh năm 1970 (sống); Em ruột: có 02 người, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 1997: Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: 01 lần. Ngày 08/7/2022, bị Tòa án nhân dân quận Bình T, thành phố Cần Thơ, xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành án xong án phạt tù vào ngày 26/4/2024. Tiền sự: Chưa; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 28/5/2025. Hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Ninh K thuộc Trại tạm giam số X

- Công an thành phố Cần Thơ.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người Bị hại: Ông Nguyễn Thành N, sinh năm: 1994

Địa chỉ: Số 44, đường X, khu dân cư 91B, phường An K, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Nay là số 44, đường X, khu dân cư 91B, phường Tân A, thành phố Cần Thơ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụán

được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 02/4/2025, chị Nguyễn Thị Tường V là nhân viên quản lý bán nước ép trái cây “D” tại địa chỉ số 02 đường Võ Văn K, phường An H, quận Ninh K, đã đóng khóa các cửa kiot nghỉ, trong lúc ra về có giữ lại số tiền 1.649.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung A31 trong hộc tủ trên bàn pha chế. Đến khoảng 05 giờ ngày 03/04/2025, chú Nguyễn Trọng Đ quản lý quán cà phê nhạc trẻ cạnh kiot Dejus đi bộ ngang phát hiện cửa kiot đã bị cạy khóa liền vào bên trong kiểm tra và thông báo cho anh Nguyễn Thành N biết nên anh N đến Công an phường trình báo sự việc.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm của anh Nguyễn Thành N, Công an phường An H đã tiến hành phân công lực lượng trích xuất camera và sử dụng các biện pháp nghiệp vụ, đến ngày 06/4/2025 đã phát hiện đối tượng Trương Hoàng M đang sinh sống trên địa bàn phường An T, quận Bình T, thành phố Cần Thơ là đối tượng nghi vấn nên kết hợp cùng Công an phường An T mời đối tượng về để điều tra làm rõ.

Tại Cơ quan điều tra Trương Hoàng M đã thừa nhận hành vi lấy trộm điện thoại nhãn hiệu Samsung A31 và số tiền 1.649.000 trong hộc tủ trên bàn pha chế, nhưng quá trình di chuyển do M để tiền vào lưng quần short nên số tiền đã lấy trộm bị đánh rơi còn hơn khoảng 800.000 đồng và M nhờ anh Nguyễn Hữu G chuyển khoản trả nợ cho anh Lê Đại L 500.000 đồng. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh địa chỉ tại nơi anh L ở thì nhà đã giải tỏa, địa phương không rõ đi đâu, làm gì nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được,

* Tang vật thu được gồm: 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A31, màu xanh đen: Số Imei: 354977114619241, dung lượng 64GB. Riêng số tiền 1.649.000 đồng M đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 784/KL-HĐĐG ngày 10 tháng 4 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận Ninh K kết luận: Điện thoại hiệu Samsung Galaxy A31, màu xanh đen: Số Imei: 354977114619241, dung lượng 64GB, trị giá 1.500.000 đồng.

Như vậy tổng trị giá các tài sản mà bị cáo Trương Hoàng M chiếm đoạt là 3.149.000 đồng.

Đối với anh Nguyễn Hữu G (chủ tiệm mua bán điện thoại Hữu G) là người mua điện thoại của bị cáo. Do anh G không biết điện thoại là do M trộm cắp mà có. Anh Gi đã tự nguyện giao nộp lại điện thoại nên chưa đủ căn cứ khởi tố về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại hiệu Samsung Galaxy A31, màu xanh đen: Số Imei: 354977114619241, dung lượng 64GB cho anh Nguyễn Thành N, anh N đã nhận lại tài sản xong.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thành N yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.649.000 đồng và anh Nguyễn Hữu G yêu cầu bồi thường 800.000 đồng. Bị cáo chưa thực hiện việc bồi thường.

Theo bản Cáo trạng số: 16/CT-VKS KV1 ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực X - Cần Thơ đã truy tố bị cáo Trương Hoàng M về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo Trương Hoàng M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã được công bố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực X - Cần Thơ truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực X - Cần Thơ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trương Hoàng M về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng tình tiết giảm nhẹ về thành khẩn khai báo đối với bị cáo, Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo còn một tiền án chưa được xóa nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trương Hoàng M với mức án phạt tù 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Hình phạt bổ sung dành cho bị cáo M: không có.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thành N yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.649.000 đồng và anh Nguyễn Hữu G yêu cầu bồi thường 800.000 đồng. Bị cáo chưa thực hiện việc bồi thường.

Về vật chứng vụ án Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại hiệu Samsung Galaxy A31, màu xanh đen: Số Imei: 354977114619241, dung lượng 64GB cho anh Nguyễn Thành N, anh N đã nhận lại tài sản xong.

Ý kiến của bị cáo: Thống nhất với tội danh, điều, khoản và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định nhưsau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Bản kết luận điều tra vụ án hình sự của cơ quan cảnh sát điều tra số 209 ngày 23/6/2025 thể hiện rõ ràng các Kết luận, kiến nghị; Đề Nghị chính xác đối với diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo Trương Hoàng M.

Tại phiên tòa lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với những chứng cứ, tài liệu thu thập được có tại hồ sơ vụán.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: qua các lời khai của người bị hại, cũng như các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cùng lời khai nhận tội của bị cáo Trương Hoàng M. Vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên Trương Hoàng M lợi dụng sự sơ hở của nhân viên quản lý bán nước ép trái cây “D” tại địa chỉ số 02 đường Võ Văn Kiệt, phường An H, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (nay là phường Cái K, thành phố Cần Thơ). Bị cáo đã đột nhập vào kiot lấy trộm điện thoại di động Samsung Galaxy A31 và tiền Việt Nam của anh Nguyễn Thành N (chủ quầy), có tổng trị giá là 3.149.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo M đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự do đó khẳng định Viện kiểm sát nhân dân Khu vực X - Cần Thơ đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật mà còn xâm phạm đến trật tự trị an xã hội ở địa phương. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội nhưng vẫn cố ý thựchiện. Xét tình hình loại tội “Trộm cắp tài sản” tại địa phương xảy ra nhiều và có chiều hướng tăng với diễn biến phức tạp, gây dư luận xấu trong nội bộ quần chúng nhân dân. Do đó, cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mới đạt được mục đích giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo còn một tiền án chưa được xóa nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thống nhất quan điểm của đại diện viện kiểm sát nhân dân Khu vực X - Cần Thơ khi xét phân tích bị cáo M được hưởng tình tiết giảm nhẹ hình phạt như tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự trong vụ án:

Anh Nguyễn Thành N yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.649.000 đồng và anh Nguyễn Hữu G yêu cầu bồi thường 800.000 đồng. Bị cáo đồng ý việc bồi thường nghĩ nên ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo M.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại hiệu Samsung Galaxy A31, màu xanh đen: Số Imei: 354977114619241, dung lượng 64GB cho anh Nguyễn Thành N, anh N đã nhận lại tài sản xong.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng Minh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Trương Hoàng M 01 năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam vào ngày 28/5/2025.

2.Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: buộc bị cáo bồi thường số tiền 1.649.000 đồng cho bị hại Nguyễn Thành N và và bồi thường 800.000 đồng anh Nguyễn Hữu G

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại hiệu Samsung Galaxy A31, màu xanh đen: Số Imei: 354977114619241, dung lượng 64GB cho anh Nguyễn Thành N, anh N đã nhận lại tài sản xong nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Trương Hoàng M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước.

3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được yết tại địa phương.

Cỡ chữ