- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Trung Tâm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Trung T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2025/HS-ST Ngày 25-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thành và ông Nguyễn Thanh Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Giao – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Trung T, sinh ngày 08 tháng 01 năm 1998 tại Quảng Ninh; Nơi ĐKHKTT: Khu Đ, phường Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nơi ở hiện nay: nay là Tổ dân phố H, phường T, thành phố Hải Phòng; CCCD số 022098006358; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị X; Có vợ (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
Bản án số 55 ngày 26/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh (nay là TAND khu vực 5 – Quảng Ninh), xử phạt T 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”, T đã chấp hành xong bản án ngày 22/3/2015;
Bản án số 38 ngày 25/5/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh (nay là TAND khu vực 5 – Quảng Ninh), xử phạt T 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, T đã chấp hành xong bản án ngày 13/02/2023.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/5/2025, hiện tạm giam tại Trại tạm giam số 02 – Công an thành phố Hải Phòng. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Tạ Văn K, sinh năm 1970
Địa chỉ: Tổ B, khu B, phường Y, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Chị Vi Thị V, sinh năm 1991.
2. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1984.
3. Anh Đặng Văn K1, sinh năm 1984.
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 15/03/2025, anh Tạ Văn K, sinh năm 1970, trú tại: Tổ B, khu B, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường Y, tỉnh Quảng Ninh) điều khiển xe máy ở khu vực chợ H1, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương (nay là phường T, thành phố Hải Phòng) thì gặp Trần Trung T nên bảo T về phòng trọ của T ở Khu dân cư H, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương (nay là phường T, thành phố Hải Phòng) để nói chuyện về việc T có nợ anh K tiền. Khi đến, anh K và T ngồi nói chuyện tại khu vực vỉa hè trước cửa phòng trọ của T. Trong khi nói chuyện, anh K đòi T số tiền T còn nợ thì T nói đã đưa tiền cho mẹ của T là bà X đã trả hộ rồi, anh K nói “Con X nó chưa trả tao”, T trả lời “Cái đấy thì chịu”. Anh K bảo T gọi điện thoại cho mẹ T rồi hai bên xảy ra tranh cãi. Sau đó anh K đi ra xe máy, ngồi lên xe đội mũ bảo hiểm định đi về thì T cho rằng anh K có lời lẽ xúc phạm mẹ của T (anh K nói "mày với con X chúng mày là một lũ lừa đảo"). Nghe anh K nói như vậy, T có nói "mày đến đây mày định gây gổ với tao à". Sau đó, T đi vào cạnh cửa bên phải nhà trọ hướng từ cửa ra đường lấy 01 (một) con dao loại dao quắm làm bằng kim loại, chuôi được bọc bằng gỗ được treo trên tường (Con dao quắm được T mua vào khoảng tháng 01/2025, được treo ở trên tường gần cửa phòng trọ với mục đích để phát cây cỏ) chạy ra chỗ anh K rồi chỉ về phía anh K và nói “mày đến đây gây sự à”. Ngay khi thấy T đi vào cửa lấy dao ra, anh K xuống xe dùng tay phải lấy trong túi áo bên phải 01 (một) bình xịt hơi cay nhãn hiệu Nato, vỏ bình bằng kim loại màu xanh lam, nắp nhựa, chiều dài khoảng 10cm, đường kính khoảng 03cm (anh K mua trên mạng vào khoảng tháng 6/2024) để trong túi áo ngực phía trước xịt về phía T. Thấy anh K cầm bình xịt hơi cay về phía mình, T cầm dao trên tay phải chém vài nhát theo chiều từ trên xuống dưới về phía tay phải của anh K nhưng không trúng. Anh K có lùi lại trên vỉa hè hướng về phía cổng làng H và tiếp tục xịt hơi cay về phía T. T đi theo, tiếp tục cầm dao quắm chém anh K và nói “con lợn này hôm nay tao phải chém mày”. Khi anh K lùi trên vỉa hè cách cửa phòng trọ của T khoảng 03 mét thì bị T chém trúng 01 phát vào bắp tay phải thì T dừng lại không tiếp tục chém nữa. Anh K bỏ chạy về phía cổng làng H, trên đường bỏ chạy anh K có ném bình xịt hơi cay ở lề đường. T đi bộ theo về phía anh K một đoạn thì chị Vi Thị V, sinh năm: 1991, trú tại: Thôn L, xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai (nay là xã K, tỉnh Lào Cai) chạy ra can ngăn và kéo T về phòng trọ của T. Anh K được người dân sơ cứu và đưa đi bệnh viện.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 132/KLTTCT ngày 05/05/2025 của Trung tâm pháp y sở y tế tỉnh Hải Dương kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Tạ Văn K tại thời điểm giám định là 27% (Hai mươi bẩy phần trăm).
Việc thu giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng: Trần Trung T tự nguyện giao nộp 01 con dao quắm làm bằng kim loại sáng màu, có chiều dài 64,4cm; lưỡi dao dài 31cm, lưỡi dao sắc, lưỡi dao rộng nhất đến 5,1cm, một đầu nhọn, phần lưỡi cong, trên lưỡi dao có khắc chìm dòng chữ "Công ty T1" phía dưới khắc dòng chữ "Dao Rèn Thủ Công Truyền Thống"; chuôi dao dài 33,4cm được ốp gỗ và cố định với chuôi dao bằng 05 đinh tán làm bằng kim loại, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Trần Trung T đã tự nguyện bồi thường cho anh Tạ Văn K số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng). Anh K đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu, đề nghị gì khác về trách nhiệm dân sự.
Tại Cáo trạng số 10/CT-VKS-KV9 ngày 21/8/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng truy tố bị cáo Trần Trung T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Bị hại vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không yêu cầu thêm về bồi thường dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Trung T từ 36 đến 39 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/5/2025. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 dao quắm bằng kim loại sáng màu, có chiều dài 64,4cm; lưỡi dao dài 31cm, lưỡi dao sắc, lưỡi dao rộng nhất đến 5,1cm, một đầu nhọn, phần lưỡi cong, trên lưỡi dao có khắc chìm dòng chữ “Công ty T1”; phía dưới khắc dòng chữ “Dao Rèn Thủ Công Truyền Thống”; chuôi dao dài 33,4cm được ốp gỗ và cố định với chuôi dao bằng 5 đinh tán làm bằng kim loại, đã qua sử dụng. Về dân sự không đặt ra giải quyết. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, truy tố, phù hợp nội dung biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp lời khai bị hại, người làm chứng, phù hợp vật chứng đã thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 15/03/2025 tại khu dân cư H, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương (nay là Tổ dân phố H, phường T, thành phố Hải Phòng) do mâu thuẫn, tranh cãi trong việc vay và trả nợ với anh Tạ Văn K nên Trần Trung T đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là con dao quắm chém vào cẳng tay phải của anh Tạ Văn K. Hậu quả, anh K bị thương, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 27%. Bị cáo người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và biết rõ việc sử dụng dao quắm là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là hành vi nguy hiểm, xâm phạm đến sức khỏe của người khác nhưng thực hiện do lỗi cố ý. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng truy tố bị cáo tội “Cố ý gây thương” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị xét xử về tội phạm ma túy và xâm phạm sở hữu. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi bị cáo đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Tạ Văn K đã được bị cáo bồi thường 1.100.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng thu giữ 01 con dao quắm đã qua sử dụng bị thu giữ là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu cho tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về các vấn đề khác: Đối với con dao quắm bị cáo sử dụng chém gây thương tích cho anh Tạ Văn K. Theo bản Kết luận giám định số 270/KL-KTHS ngày 05/5/2025 của Phòng Kỹ Thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận đây là dao có tính sát thương cao (dao sắc, nhọn), quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 6 (Kèm theo Phụ lục 5: Danh mục dao có tính sát thương cao quy định tại khoản 6 Điều 2 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ) trong thông tư số 75/2024/TT- BCA, ngày 15/11/2024 của Bộ Công an. Tuy nhiên, bị cáo T không có mục đích và không có hành vi chuẩn bị dao từ trước để gây thương tích cho anh K, mà do trong quá trình nói chuyện với anh K nảy sinh mâu thuẫn bộc phát, nên chưa có căn cứ xem xét, xử lý hành vi sử dụng trái phép vũ khí quân dụng là phù hợp. Đối với hành vi của anh Tạ Văn K trong quá trình xảy ra xô xát với Trần Trung T có sử dụng 01 bình xịt hơi cay (là công cụ hỗ trợ) xịt về phía T. Tuy nhiên, trước đó Tạ Văn K chưa bị xử phạt hành chính hoặc bị kết án về hành vi này nên Công an phường T, thành phố Hải Phòng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Tạ Văn K về hành vi trên là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 26/2016/UBTVQG14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 331, Điều 333, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
2. Tuyên bố bị cáo Trần Trung T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt Trần Trung T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 15/5/2025.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 dao quắm bằng kim loại sáng màu, có chiều dài 64,4cm; lưỡi dao dài 31cm, lưỡi dao sắc, lưỡi dao rộng nhất đến 5,1cm, một đầu nhọn, phần lưỡi cong, trên lưỡi dao có khắc chìm dòng chữ “Công ty T1”; phía dưới khắc dòng chữ “Dao Rèn Thủ Công Truyền Thống”; chuôi dao dài 33,4cm được ốp gỗ và cố định với chuôi dao bằng 5 đinh tán làm bằng kim loại, đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 28/8/2025 của Phòng THADS khu vực 9 - Hải Phòng).
5. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Trung T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND khu vực 9 – Hải Phòng; - Cơ quan CSĐT - CA TP Hải Phòng; - Phòng HSNV- CA TP Hải Phòng; - Trại tạm giam số 02- CATP Hải Phòng; - THADS TP Hải Phòng; - Bị cáo; bị hại; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thị Vân Anh |