vanban.org

Bản án 22/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 27/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt; Nguyễn Văn Tr 30 (Ba mƣơi ) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt; Nguyễn Văn Th 18 ( Mƣời tám ) tháng tù về tội “Cướp giật tài Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Tr và đồng bọn - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt; Nguyễn Văn Tr 30 (Ba mƣơi ) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Xử phạt; Điều 171 Bộ luật Xử phạt; Điều 38 Bộ luật Xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-ST
Ngày 27 tháng 8 năm 2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Quốc Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Bích Thủy.

Bà Nguyễn Thị Thi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Cấn Thùy Dung, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28 /2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2025 đối với các bị cáo:

1.Nguyễn Văn Tr,sinh nam 2001; Nơi ĐKHKTT:Thôn Phẻo,xã X Gi,huyện B Th,tỉnh L C (Nay là xã Gi Ph L C) Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn Kh,sinh năm 1975; Con bà: Nguyễn Thúy H,sinh năm 1980; Vợ: Nguyễn Thu V, sinh năm 2003, con: Có 02 con;Tiền án, tiền sự: không.Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/01/2025. Hiện tạm giam tại Trại Tạm giam số I- Công an thành phố Hà Nội (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

2.Nguyễn Văn Th,sinh nam 1998; Nơi ĐKHKTT: Khu dân cư Đại Bộ, phường Hoàng T, thành phố Ch L, tỉnh H D( Nay là phường Trần Nhân T H Ph)Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1975; Con bà: Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1977; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự:Không.Bị cáo bị bắt Tạm giữ từ ngày 14/01/2025.Hiện Tạm giam tại Trại Tạm giam số I-Công an thành phố Hà Nội (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1991;Địa chỉ: Thôn Q H, xã Đ Q, huyện B V, nay là Thôn Q H xã Q O, thành phố Hà Nội.(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 7/2024, Nguyễn Văn Tr sử dụng tài khoản Facebook tên “Nguyễn Tr” tham gia vào hội nhóm có tên “Hội vỡ nợ - Thua Tha - Thích làm liều” trên mạng xã hội Facebook. Qua hội nhóm, Tr làm quen, kết bạn với Nguyễn Văn Th (sử dụng tài khoản Facebook tên “Th Nguyễn Th). Do không có việc làm ổn định và cần tiền tiều sài nên Tr và Th đã rủ nhau đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp, cướp giật tài sản.

Sáng ngày 07/01/2025, Tr và Th hẹn đón nhau tại số 50 Tr Hòa, phường Tr H, C Gi, Hà Nội để cùng nhau đi tìm kiếm tài sản sơ hở. Tr đã tự ý lấy chiếc xe mô tô Honda Wave, màu đen bạc, BKS: 36B8- 635.90 của bạn cùng phòng trọ là anh Nguyễn Văn N (sinh năm 2003; trú tại: Y Th, Y H, V Y, Y B) để đến đón Th. Khi đi, Tr mặc áo khoác màu đen hai bên cánh tay kẻ sọc trắng, quần vải dài màu đen, đi giầy màu đen dáng thể thao, đội mũ lưỡi trai màu hồng nhạt, đội mũ bảo hiểm thời trang màu hồng bên ngoài, đeo khẩu trang màu đen, đeo một túi có quai chéo Burberry, có sọc kẻ ca rô. Th mặc áo khoác gió màu đen, quần bò màu xanh, đi giày thể thao màu trắng- đen, đeo khẩu trang màu trắng, đội mũ bảo hiểm thời trang màu đen. Sau đó, Tr điều khiển xe mô tô chở Th ngồi sau đi theo hướng Hà Nội- V Ph. Trên đường đi, Tr và Th bàn bạc với nhau về việc: một người sẽ vào cửa hàng vàng giả vờ hỏi mua vàng rồi bỏ chạy, người còn lại ở phía ngoài nổ máy xe đợi sẵn để tẩu thoát. Tr điều khiển xe chở Th đi qua địa phận V Ph rồi đi th ng lên thành phố V Tr, tỉnh Ph Th. Lúc này, để tránh bị phát hiện, Tr và Th dừng lại tháo bỏ BKS của xe, cất vào trong cốp xe. Sau đó, Tr tiếp tục điều khiển xe mô tô chở Th đi qua nhiều tuyến đường ở quanh khu vực thành phố V Tr, Ph Th để tìm kiếm cửa hàng vàng. Tuy nhiên, một số cửa hàng vàng bạc có bảo vệ trông coi nên Tr và Th không vào mà v n tiếp tục đi một, hai vòng rồi đi qua cầu V L sang địa phận huyện B V. Tr đi trên Quốc lộ 32, hướng B V- đi TX S T. Khi đi đến địa phận thôn Q H, xã Đ Q, B V, Hà Nội, Tr phát hiện thấy cửa hàng vàng bạc biển hiệu “H V” của chị Nguyễn Thị Th (ở bên tay trái theo hướng di chuyển của Tr) không có bảo vệ trông coi. Tr và Th thống nhất vào cửa hàng để cướp giật tài sản. Thực hiện ý định, Tr điều khiển xe máy đi qua cửa hàng khoảng 30m về hướng thị xã S T, rồi vòng xe quay lại đi qua cửa hàng khoảng 5m thì dừng lại. Tr quay đầu xe máy về hướng TX S T. Sau đó, Tr xuống xe, tháo bỏ mũ bảo hiểm rồi đi vào bên trong cửa hàng, còn Th đứng ở ngoài cảnh giới và nổ máy chờ sẵn. Khi vào quán, Tr đặt vấn đề hỏi mua một sợi dây chuyền vàng nam, loại vàng ta, trọng lượng 4 chỉ. Chị Th không có loại này nên tư vấn và đưa cho Tr xem 01 dây chuyền, loại vàng ta 999, trọng lượng 03 chỉ và 01 chiếc nh n vàng trơn 01 chỉ loại 999. Tr cầm dây chuyền và nh n ở trên hai tay lật đi, lật lại giả vờ xem. Khi thấy chị Th không để ý và giữa hai người ngăn cách bởi chiếc tủ kính trưng bày vàng, Tr liền cầm số vàng trên tay rồi nhanh chóng bỏ chạy ra chỗ Th đang đứng chờ và lên xe. Th liền tăng ga bỏ chạy về hướng đi TX S T. Chị Th chạy bộ đuổi theo ra đến cửa quán nhưng không đuổi được. Sau đó, chị Th đã làm đơn trình báo cơ quan công an.

Về phía Tr và Th: sau khi cướp giật được số vàng trên, Tr và Th mang đến bán tại Cửa hàng vàng bạc "Anh T", địa chỉ: 1178 Đường QL6, P. Y Ngh, H Đ, Hà Nội do anh Phạm Văn Tr- sinh năm 1983; trú tại: Số nhà 18, tổ 4, phường Y Ngh, H Đ, Hà Nội làm chủ. Khi lấy số vàng vừa cướp giật được ra kiểm tra thì Tr phát hiện đã làm rơi mất chiếc nh n vàng 01 chỉ trên đường bỏ chạy, chỉ còn lại sợi dây chuyền vàng 3 chỉ. Tr đưa cho Th sợi dây chuyền vàng rồi cùng nhau đi vào cửa hàng. Khi gặp anh Tr, Th đưa sợi dây chuyền cho anh Tr xem và nói muốn bán sợi dây chuyền này. Sau khi xem, anh Tr xác định là vàng thật (trên móc dây chuyền có ký hiệu “VN”- là vàng của công ty vàng bạc “Văn Ngân”). Anh Tr hỏi về nguồn gốc dây chuyền thì Th nói dối là dây chuyền của Th mua ở quê, nay cần tiền nên muốn bán. Anh Tr trả giá 8.100.000đ/01 chỉ vàng thì Th đồng ý. Sau khi nhận 24.300.000 đồng từ anh Tr, Th đưa lại số tiền trên cho Tr. Tr chia cho Th 11.000.000 đồng, còn Tr cầm 13.300.000 đồng. Tr và Th đã tiêu sài cá nhân hết số tiền trên.

Ngày 13/01/2025, Cơ quan CSĐT- CAH Ba Vì đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Nguyễn Văn Tr tại địa chỉ phòng 203, số nhà 41, ngõ 43/86 Tr Kính- Tr H- C Gi- Hà Nội. Quá trình khám xét đã thu giữ: 01 mũ bảo hiểm thời trang màu hồng; 01 đôi giày kiểu dáng thể thao; 01 áo khoác màu đen hai bên cánh tay kẻ sọc trắng; 01 một túi đeo chéo Burberry; 01 mũ lưỡi trai màu hồng nhạt (là trang phục Tr mặc khi cướp giật tài sản tại cửa hàng vàng Hùng Vượng) và 01 điện thoại Iphone X, màu trắng, số Imei : 359412089055481 gắn sim số : 0389269824 ( là điện thoại Tr liên lạc với Th rủ nhau đi cướp giật tài sản).

Quá trình làm việc tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Th đã tự nguyện giao nộp: 01 áo khoác gió màu đen, 01 quần bò màu xanh và 01 đôi giày màu trắng đen ( là trang phục Th sử dụng mặc để đi cướp giật tài sản vào ngày 07/01/2025) và 01 điện thoại Iphone 12 promax, màu xanh, Imei1: 35157259962549; Imei2: 351572599848325, lắp sim số: 0989601430 ( là chiếc điện thoại của Th sử dụng để liên lạc với Tr đi cướp giật tài sản ngày 07/01/2025). Anh Đặng Đình Đ ( sinh năm 2003; trú tại: QGi, Q X, Th H) tự nguyện giao nộp chiếc xe máy Honda Wave, màu đen bạc, BKS: 36B8-635.90, SK: RLHJA3924MY471115; SM:JA39E2495538 (xe máy cũ, đã qua sử dụng).

Ngày 14/01/2025, cơ quan CSĐT- CAH B V đã ra Quyết định truy tìm vật số 35 để truy tìm đối với 01 chiếc nh n vàng trơn, loại vàng 999 và 01 sợi dây chuyền, loại vàng 999; trọng lượng 03 chỉ. Tuy nhiên, cơ quan điều tra không truy tìm được chiếc nh n do Tr không biết đã làm rơi từ khi nào và rơi ở đâu trong quá trình bỏ chạy. Đối với sợi dây chuyền vàng 999 trọng lượng 03 chỉ: sau khi mua của Tr và Th, anh Tr đã đem đến công ty vàng bạc Văn Ng, địa chỉ: số 36 H B- phường H B- quận Hoàn Kiếm- Hà Nội để nung chảy cùng với 02 chỉ vàng của mình và đúc thành vàng miếng 9999 loại 5 chỉ. Do vậy, cơ quan điều tra không có căn cứ thu giữ.

Ngày 26/4/2025, Cơ quan CSĐT- CATP Hà Nội đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 4001 để yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Vì định giá đối với: 01 chỉ vàng loại ta 999 kiểu dáng thiết kế nh n trơn; 03 chỉ vàng loại vàng ta 999 kiểu dáng thiết kế loại dây chuyền. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 53/KLĐ ngày 28/4/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Vì kết luận: 01 chỉ vàng loại ta 999 kiểu dáng thiết kế nh n trơn: 8.000.000 đồng; 03 chỉ vàng loại vàng ta 999 kiểu dáng thiết kế loại dây chuyền: 24.000.000 đồng. Tổng giá trị là 32.000.000 đồng.

Về nguồn gốc chiếc xe máy Honda Wave, màu đen bạc, BKS: 36B8-635.90 mà Tr và Th sử dụng ngày 07/01/2025; quá trình điều tra xác định: Chiếc xe trên là tài sản của anh Đặng Đình Long- sinh năm 2001; trú tại: Q Gi, Q X, Th H. Anh L đi xuất khẩu lao động và giao lại chiếc xe cho em trai là anh Đặng Đình Đ quản lý và sử dụng. Từ ngày 04/01/2025 đến ngày 09/01/2025, anh Đ gửi chiếc xe tại phòng trọ của anh Nguyễn Văn N (là người làm cùng với anh Đ và là người ở trọ cùng với Tr). Anh Đ không biết việc Tr lấy xe đi để cướp giật tài sản. Qua tra cứu cho thấy chiếc xe trên không thuộc dữ liệu cơ sở xe máy vật chứng. Vì vậy, ngày 26/4/2025, cơ quan CSĐT- CATP Hà Nội đã ra Quyết định xử lý vật chứng số B3986, trao trả chiếc xe trên cho anh Đặng Đình Đ. Sau khi nhận lại tài sản, anh Đ không có yêu cầu đề nghị gì.

Đối với anh Nguyễn Văn N- là người được Đ gửi chiếc xe máy Honda Wave, màu đen bạc, BKS: 36B8-635.90 tại phòng trọ của mình. Tuy nhiên, ngày 07/01/2025, anh N không biết việc Tr tự lý lấy chiếc xe trên sử dụng để đi cướp giật tài sản. Vì vậy, cơ quan điều tra không đưa ra hình thức xử lý.

Đối với anh Phạm Văn Tr- là người mua sợi dây chuyền 03 chỉ mà Tr và Th cướp giật ngày 07/01/2025: anh Tr không biết đây là tài sản do Tr và Th phạm tội mà có. Vì vậy, cơ quan điều tra không xử lý anh Tr về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại Điều 323 BLHS mà chỉ nhắc nhở, rút kinh nghiệm.

Về dân sự: bị cáo Nguyễn Văn Th đã tác động gia đình bồi thường cho chị Nguyễn Thị Th số tiền 18.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền bồi thường, chị Th không yêu cầu đề nghị gì về dân sự đối với Th. Chị Th yêu cầu Nguyễn Văn Tr bồi thường số tiền 14.000.000 đồng.

Về vật chứng còn lại của vụ án gồm: 01 mũ bảo hiểm thời trang màu hồng; 01 đôi giày kiểu dáng thể thao; 01 áo khoác màu đen hai bên cánh tay kẻ sọc trắng ; 01 một túi đeo chéo Burberry; 01 mũ lưỡi trai màu hồng ; 01 điện thoại Iphone X, màu trắng (đã qua sử dụng); 01 áo khoác gió màu đen, 01 quần bò màu xanh; 01 đôi giày màu trắng đen và 01 điện thoại Iphone 12 promax, màu xanh (đã qua sử dụng); Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đã có quyết định chuyển vật chứng đến chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì để bảo quản và chờ xử lý theo quy định.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn Tr và Nguyễn Văn Th đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên. Ngoài ra, Tr và Th còn khai đã thực hiện 01 vụ cướp giật tài sản vào ngày 08/1/2025 tại tiệm vàng ở khu vực tổ dân phố Ấ, phường H T, Ph Y, Th Ng. Hiện cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Th Ng đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và đang điều tra vụ án theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số: 42/CT-VKS-BV ngày 24/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B V, thành phố Hà Nội trước đây đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Tr và Nguyễn Văn Th ra trước Tòa án nhân dân huyện B V, TP. Hà Nội ( nay là Tòa án nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội để xét xử về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 BLHS.

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Nguyễn Văn Tr, Nguyễn Văn Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Các bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị hại là chị Nguyễn Thị Th có đơn xin xét xử vắng mặt, tiếp tục yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn Tr phải bồi thường thiệt hại số tiền là 14.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa v n giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn Tr, Nguyễn Văn Th đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 xử phạt Nguyễn Văn Tr từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 xử phạt Nguyễn Văn Th từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn Th đã tác động gia đình bồi thường cho chị Nguyễn Thị Th số tiền 18.000.000 đồng, sau khi nhận tiền bồi thường, chị Th không yêu cầu đề nghị gì về dân sự đối với Th nên đề nghị HĐXX không xem xét. Chị Nguyễn Thị Th yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn Tr phải bồi thường số tiền 14.000.000 đồng.Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên.Do vậy, HĐXX buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr phải có trách nhiệm bồi thường số tiền 14.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Th.

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm thời trang màu hồng; 01 đôi giày kiểu dáng thể thao; 01 áo khoác màu đen hai bên cánh tay kẻ sọc trắng ; 01 một túi đeo chéo Burberry; 01 mũ lưỡi trai màu hồng ; 01 quần bò màu xanh; 01 đôi giày màu trắng đen; 01 áo khoác gió màu đen; 01 quần bò màu xanh.

Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại Iphone X, màu trắng (đã qua sử dụng) và 01 điện thoại Iphone 12 promax, màu xanh (đã qua sử dụng);

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B V ( nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hà Nội ), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn Tr, Nguyễn Văn Thể nhận thấy: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Chiều ngày 07/01/2025, bị cáo Nguyễn Văn Tr đã vào cửa hàng vàng biểu hiệu "Hùng Vượng" của chị Nguyễn Thị Th ở thôn Q H, xã Đ Q, huyện B V, TP. Hà Nội ( nay là thôn Q H, xã Q O, thành phố Hà Nội ) giả vờ hỏi mua một sợi dây chuyền vàng loại 999, trọng lượng 03 chỉ và 01 chiếc nh n tròn trơn loại 999, trọng lượng 01 chỉ. Khi chị Th đưa vàng cho Tr xem, Tr đã cầm vàng rồi nhanh chóng bỏ chạy, lên xe máy do Nguyễn Văn Th nổ máy đợi sẵn bên ngoài để tẩu thoát. Tổng số vàng bị cáo Nguyễn Văn Tr và Nguyễn Văn Th đã chiếm đoạt trị giá 32.000.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Tr và Nguyễn Văn Th phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 BLHS năm 2015.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân tại nhiều địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ nhưng v n thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó cần phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Nguyễn Văn Th đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị Th số tiền 18.000.000 đồng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

Xét vai trò các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo phạm tội thuộc Tr hợp đồng phạm, tiếp nhận ý chí của nhau để cùng thực hiện hành vi phạm tội, có sự bàn bạc thống nhất từ trước trong đó bị cáo Nguyễn Văn Tr đóng vai trò cầm đầu, thực hành tích cực khi chuẩn bị xe máy là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, chở Th đi tìm mục tiêu là tài sản để thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật với chị Th nên phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn, bị cáo Nguyễn Văn Th đóng vai trò người giúp sức khi cảnh giới cho Tr thực hiện hành vi cướp giật, điều khiển xe máy để bỏ chạy và bán vàng lấy tiền tiêu sài cá nhân nên phải chịu trách nhiệm hình sự nhẹ hơn.

Đối với anh Nguyễn Văn N-là người được Đ gửi chiếc xe máy Honda Wave, màu đen bạc, BKS: 36B8-635.90: Ngày 07/01/2025, anh Nam không biết việc Tr tự lý lấy chiếc xe trên sử dụng để đi cướp giật tài sản. Vì vậy, cơ quan điều tra không đưa ra hình thức xử lý nên HĐXX không xem xét.

Đối với anh Phạm Văn Tr là người mua sợi dây chuyền 03 chỉ mà Tr và Th cướp giật ngày 07/01/2025, anh Tr không biết đây là tài sản do Tr và Th phạm tội mà có. Vì vậy, cơ quan điều tra không xử lý anh Tr về hành vi « Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà » có theo quy định tại Điều 323 BLHS mà chỉ nhắc nhở, rút kinh nghiệm nên HĐXX không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về dân sự:

Bị cáo Nguyễn Văn Th đã tác động gia đình bồi thường cho chị Nguyễn Thị Th số tiền 18.000.000 đồng, sau khi nhận tiền bồi thường chị Th không đề nghị gì về dân sự đối với Th nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Chị Nguyễn Thị Th yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn Tr phải bồi thường số tiền 14.000.000 đồng.Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên. Do vậy, HĐXX buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr phải có trách nhiệm bồi thường số tiền 14.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Th.

Về vật chứng:

Đối với 01 mũ bảo hiểm thời trang màu hồng; 01 đôi giày kiểu dáng thể thao; 01 áo khoác màu đen hai bên cánh tay kẻ sọc trắng ; 01 một túi đeo chéo Burberry; 01 mũ lưỡi trai màu hồng ; 01 đôi giày màu trắng đen; 01 áo khoác gió màu đen; 01 quần bò màu xanh là công cụ phương tiện các bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại Iphone X, màu trắng (đã qua sử dụng) và 01 điện thoại Iphone 12 promax, màu xanh (đã qua sử dụng) là công cụ, phương tiện các bị cáo liên lạc với nhau để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước.

Đối với chiếc xe máy Honda Wave, màu đen bạc, BKS: 36B8-635.90: Anh Đặng Đình Đ không biết việc Tr lấy xe đi để cướp giật tài sản. Qua tra cứu cho thấy chiếc xe trên không thuộc dữ liệu cơ sở xe máy vật chứng. Vì vậy, ngày 26/4/2025, cơ quan CSĐT- CATP Hà Nội đã ra Quyết định xử lý vật chứng số B3986, trao trả chiếc xe trên cho anh Đặng Đình Đ. Sau khi nhận lại tài sản, anh Đ không có yêu cầu đề nghị gì nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt; Nguyễn Văn Tr 30 (Ba mƣơi ) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2025.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt; Nguyễn Văn Th 18 ( Mƣời tám ) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2025.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

-Tịch thu, tiêu hủy :01 mũ bảo hiểm thời trang màu hồng,có in chữ Verpar; 01 đôi giầy màu đen, kiểu dáng thể thao; 01 áo khoác màu đen có in hình Logo chữ adidas ngực trái hai bên cánh tay kẻ sọc trắng ; 01 một túi đeo chéo Burberry; 01 mũ lưỡi trai màu hồng nhạt ;01 đôi giày màu trắng đen; 01 áo khoác gió màu đen; 01 quần bò màu xanh là công cụ phương tiện các bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

-Tịch thu sung quỹ nhà nước :01 điện thoại Iphone X, màu trắng,số Imei ;359412089055481 ( Tại thời điểm bàn giao không kiểm tra được số imei do máy bị khóa mật khẩu,không kiểm tra được bên trong máy ) và 01 điện thoại Iphone 12 promax, màu xanh, imei 1; 35157259962549; imei 2;351572599848325 (Tại thời điểm bàn giao không kiểm tra được số imei do máy bị khóa mật khẩu,không kiểm tra được bên trong máy ).(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/ 07 /2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an TP Hà Nội và Phòng thị hành án dân sự khu vực 9 TP. Hà Nội).

4.Về dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chị Nguyễn Thị Th số tiền: 14.000.000 (Mười bốn triệu đồng)

5.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn Th phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Nguyễn Văn Tr phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 700.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niên yết bản án.

Cỡ chữ