vanban.org

Bản án 22/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 11/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo NGUYỄN VĂN H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 318; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS; Xử phạt: bị cáo NGUYỄN VĂN H 07 (bẩy) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H gây rối trật rự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo NGUYỄN VĂN H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN ĐẠI TỪ
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS - ST
Ngày: 11/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiên.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thuý, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện VKSND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lã Thị T - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11/3/2025 tại Trụ sở TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự theo thủ tục rút gọn thụ lý số: 23/2025/TLST - HS ngày 24/02/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST - HS ngày 04/3/2025 đối với các bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN VĂN H, SN 15/11/1983; Giới tính: Nam;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm C, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Bố: Nguyễn Văn H1 sinh năm 1959; Mẹ: Đinh Thị H2 sinh năm 1959. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị H3 sinh năm 1986; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2014;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/01/2025 đến ngày 06/02/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn. Hiện đang được tại ngoại tại địa phương nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1986. Trú quán: xóm X, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 29/01/2025 (Tức ngày 01 Tết nguyên đán), Tổ công tác Công an xã B, huyện Đ làm nhiệm vụ tại khu vực xóm C, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Theo kế hoạch số 07/KH (CA-QS) ngày 24/01/2025 của Công an - Quân sự Ủy ban nhân dân xã B về việc tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trước, trong và sau Giao thừa tết nguyên đán Ất Tỵ 2025) đã phát hiện tại Tỉnh lộ 261 đoạn thuộc xóm C, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên có một người đàn ông đang có hành vi đốt pháo hoa nổ trên đường. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì người đàn ông khai nhận là Nguyễn Văn H (H khai số pháo hoa nổ mà H đốt là pháo hoa nổ do Trung Quốc sản xuất do H mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi và địa chỉ tại khu vực xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên với giá 01 triệu đồng). Tổ công tác Công an xã B đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng là một vật hình hộp chữ nhật có bốn mặt màu đỏ, vàng in nhiều chữ nước ngoài kích thước 22 x 15 x 22cm, bên trong có 100 ống hình trụ bằng giấy màu nâu đường kính 02x15cm (Niêm phong hộp ký hiệu A) theo quy định của pháp luật. Nhận thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm, Công an xã B đã chuyển hồ sơ, vật chứng, đối tượng đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Hồi 02 giờ 40 phút ngày 29/01/2025 Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tiến hành khám nghiệm hiện trường thu giữ vật chứng là các mảnh giấy vụn tại vị trí mặt đường nơi H đốt pháo nổ.

Hồi 03 giờ 20 phút cùng ngày 29/01/2025 Cơ quan điều tra Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật đối với H thu giữ 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ có in chữ “Thống nhất” đã qua sử dụng tại nhà H (niêm phong ký hiệu BL1).

Ngày 29/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra Quyết định trưng cầu giám định các mảnh giấy và 01 hộp vỏ pháo thu giữ của H. Tại Bản kết luận giám định số 239/KL-KTHS ngày 06/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

+ Các mảnh giấy vụn có kích thước khác nhau trong túi niêm phong ký hiệu “NS42147662” là sản phẩm của pháo nổ (vỏ pháo).

+ 01 vật hình hộp có kích thước (22x15x22)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong có 100 ống hình trụ bằng giấy màu nâu, dài 15cm, đường kính 02cm được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu “A” là sản phẩm của pháo nổ (vỏ pháo).

Tại Cơ quan điều tra H khai nhận như sau: Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 28/01/2025, H điều khiển xe mô tô chở thuốc lá đi giao cho cửa hàng tạp hoá tại xóm T, xã T, huyện Đ. Sau khi giao hàng xong H nảy sinh ý định mua pháo hoa nổ để đốt đêm giao thừa. H điều khiển xe mô tô đi trên đường gần khu vực nhà máy thuộc xóm Đ, xã T, huyện Đ thì gặp và giao dịch mua của một người đàn ông không quen biết 01 hộp pháo hoa nổ, loại dàn 100 quả với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Sau khi mua được pháo hoa nổ H mang về nhà cất giấu trong một chiếc thùng xốp để trước của nhà. Đến khoảng 00 giờ 05 phút ngày 29/01/2025 (Ngày 01 Tết nguyên đán), sau khi làm lễ cúng giao thừa xong, H cầm theo bật lửa màu đỏ có in chữ Thống N đi ra phía trước cửa nhà lấy hộp pháo nổ mang ra đường dân sinh phía trước cửa nhà H. H đặt hộp pháo xuống mặt đường rồi dùng bật lửa châm vào phần dây dẫn nổ của hộp pháo khiến phần dây dẫn cháy và làm các quả pháo bên trong hộp bị kích nổ bắn lên trên trời phát sáng và phát nổ. Đúng lúc này Tổ công tác Công an xã B, huyện Đ phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng đối với H như nêu trên.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 chiếc bật lửa màu đỏ in chữ Thống Nhất niêm phong trong bì ký hiệu BL1. Hiện đang được bảo quản và lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.

Tại quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 27/CT-VKSĐT ngày 22/02/2025, VKS nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện VKS giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp dụng: khoản 1 Điều 318; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo; Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận; thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan. Nói lời sau cùng: xin giảm nhẹ hình phạt và cho được cải tạo tại địa phương.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét khách quan toàn bộ các chứng cứ, ý kiến đề nghị của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những tài liệu chứng cứ khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; VKS nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

. Xét hành vi của bị cáo, thấy: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ nội dung, diễn biến hành vi phạm tội của mình đúng như kết luận điều tra và quyết định đã truy tố.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án, như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Lời khai của người làm chứng; vật chứng thu giữ; Kết luận giám định; đoạn video liên quan đến hành vi Gây rối trật tự công cộng của H xảy ra ngày 29/01/2025 do Công an xã B ghi nhận.

Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự. VKS nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Nội dung khoản 1 Điều 318 BLHS quy định:

“1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội ... thì bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”

. Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo:

Tính chất của vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.

. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Xét nhân thân của bị cáo:

Bị cáo xuất thân từ gia đình lao động, được nuôi ăn học, có đầy đủ nhận thức các việc làm đúng sai; bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, do coi thường pháp luật, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.

. Về hình phạt: Căn cứ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy: bị cáo là người có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự; hành vi phạm tội có tính chất giản đơn, có thái độ thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; động cơ, mục đích phạm tội mang tính chất ham vui, tuy có làm anh hưởng đến an ninh trật tự nhưng chưa gây ra bất cứ thiệt hại nào về vật chất cũng như làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, khi quyết định hình phạt, HĐXX cần cân nhắc để có mức hình phạt tù cho phù hợp, đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

. Về vật chứng của vụ án:

01 chiếc bật lửa màu đỏ in chữ Thống Nhất niêm phong trong bì ký hiệu BL1. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội, cần được tịch thu và tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST sung công quỹ Nhà nước.

. Các nội dung có liên quan khác:

Liên quan đến vụ án, H khai nhận số pháo nổ là do H mua của một người đàn ông không quen biết lai lịch và địa chỉ tại khu vực Công ty M thuộc xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên với giá 01 triệu đồng. Khi mua pháo nổ về H không nói cho chị H3 (vợ của H) hay ai trong gia đình biết về việc H thực hiện hành vi đôt pháo nổ. Do vậy Cơ quan điều tra Công an huyện Đ không xem xét xử lý đối với chị H3 và người đàn ông này.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo NGUYỄN VĂN H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 318; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS;

Xử phạt: bị cáo NGUYỄN VĂN H 07 (bẩy) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự.

* Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS.

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bật lửa màu đỏ in chữ Thống Nhất niêm phong trong bì ký hiệu BL1.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng như mô tả trong quyết định chuyển vật chứng số 25/QĐ - VKSĐT ngày 22/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và các biên bản giao nhận vật chứng kèm theo).

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Luật án phí lệ phí; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí HSST sung ngân sách nhà nước.

Án xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ