- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lữ Văn C 03 (Ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/02/2025.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2025/HS-ST Ngày 24 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Bảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Giang, bà Lương Thị Thùy Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Lữ Văn C - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 24 tháng 11 năm 2000 tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản Xiềng, xã Đôn Phục, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lữ Văn M, sinh năm 1979, con bà Lương Thị Q, sinh năm 1979; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 28/6/2022 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 21 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” và “ Trộm cắp tài sản” hiện chưa được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/02/2025 đến nay. Bị cáo có mặt tại điểm cầu.
- Người bào chữa cho bị cáo Lữ Văn C: Ông Nguyễn Văn Hùng – Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An.
- Người bị hại:
1. Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1984 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn 2/9, xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
2. Chị La Thị L, sinh năm 1990 – Có mặt.
Địa chỉ: Bản Châu Sơn, xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 05/01/2025 đến ngày 01/02/2025, Lữ Văn C đã 02 lần có hành vi lén lút vào nhà người dân để lấy trộm tài sản. Cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào ngày 05/01/2025, Lữ Văn C được nhà rạp Tâm Thu (có địa chỉ tại thôn Lam Khê, xã Chi Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An) thuê đi lắp rạp cưới cho gia đình chị La Thị L. Đến buổi chiều ngày 06/01/2025, đám cưới được tổ chức xong thì Lữ Văn C dọn rạp để chuyển về nhưng do đồ nhiều không chuyển kịp nên C xin ngủ nhờ lại gia đình chị La Thị L. Vì biết gia đình chị L vừa tổ chức đám cưới cho con xong thì sẽ có tiền trong nhà nên trong buổi tối hôm đó C nảy sinh ý định trộm tiền của gia đình chị L. Đến khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 07/01/2025, Lữ Văn C đi Ln trên tầng hai của nhà chị L, trên giường ngủ gần cửa chính, phía bên tay phải theo hướng đi vào. Do giường ngủ chỉ có tấm rèm kéo che lại nên C vén rèm ra thì thấy trên giường có ba người đang ngủ, phía cuối giường có một tấm vải, C dùng tay phải kéo tấm vài Ln thì thấy có một túi thổ cẩm, màu đỏ, không có séc khóa, bên trong túi vải có một tệp tiền mặt được buộc bằng một dây chun và có nhiều phong bì thư. C cầm lấy tệp tiền mặt rồi lấy tấm vải che túi thổ cẩm lại và cất tệp liền vừa lấy được vào túi áo khoác mà C đang mặc rồi bỏ chạy về nhà tại bản Xiềng, xã Đôn Phục, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Khi về đến nhà, C đưa tệp tiền vừa lấy trộm được ra đếm thì có có tổng cộng 48.000.000 đồng (Bốn mươi tám triệu đồng). Sau khi trộm được số tiền trên thì C đã tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ hai: Vào khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 01/02/2025, Lữ Văn C đi bộ từ nhà tại bản Xiềng, xã Đôn Phục, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An đến xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An với mục đích trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đi đến thôn 2/9, xã Châu Khê, huyện Con Cuông, C thấy nhà anh Nguyễn Văn S khóa cổng nhưng không rút chìa khóa khỏi ổ nên C mở cổng đi vào trong thì thấy tại sân nhà anh S có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave, màu đen bạc, mang biển kiểm soát: 37C1-129.99 đang cắm sẵn chìa khóa tại ổ khóa xe. C quan sát xung quanh không thấy ai nên liền dắt xe ra khỏi sân nhà anh S và điều khiển xe mô tô nói trên đi về bản Xiềng, xã Đôn Phục, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An và giấu chiếc xe dưới gầm cầu bản Xiềng, xã Đôn Phục.
Ngày 01/02/2025, anh Nguyễn Văn S có đơn trình báo đến Cơ quan C sát điều tra Công an huyện Con Cuông về việc rạng S ngày 01/02/2025 anh S bị kẻ gian lấy trộm 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, màu đen bạc, mang biển kiểm soát: 37C1-129.99.
Ngày 02/02/2025, nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nên Lữ Văn C đã đến Công an xã Châu Khê, huyện Con Cuông để đầu thú và giao nộp chiếc xe nói trên.
Ngày 15/02/2025, chị La Thị L có đơn trình báo gửi Cơ quan C sát điều tra Công an huyện Con Cuông về việc vào khoảng tối 06/01/2025 đến S ngày 07/01/2025 gia đình chị bị kẻ gian đột nhập lấy trộm số tiền 48.000.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 05/HĐĐGTS ngày 06/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Con Cuông kết luận: 01 chiếc xe mô tô HONDA, số loại WAVE, màu sơn đen bạc, mang BKS 37C1 129.99, số máy JA39E0293416, số khung 3905HY293350, đã qua sử dụng có giá trị 8.000.000 đồng.
Cáo trạng số: 22/CT-VKS-CC ngày 17/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Lữ Văn C về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai báo và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lữ Văn C từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, miễn tiền án phí cho bị cáo; Buộc bị cáo bồi thường cho chị La Thị L số tiền 41.100.000 đồng.
- Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Qua nghiên cứu hồ sơ cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình nên tôi không tranh luận về phần tội danh mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật bị cáo đã ra đầu thú và tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại do mình gây ra, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức về pháp luật còn hạn chế vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất, miễn hình phạt bổ sung, miễn tiền án phí cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
- Trong quá trình điều tra: Cơ quan điều tra, Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, thu thập chứng cứ, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị can; xử lý vật chứng; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.
- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.
- Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp pháp và được sử dụng làm chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
Về nội dung: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lữ Văn C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 05/01/2025 đến ngày 01/02/2025, Lữ Văn C đã có hành vi lén lút vào nhà chị La Thị L lấy trộm số tiền 48.000.000 đồng và vào nhà anh Nguyễn Văn S lấy trộm 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, màu đen bạc, mang biển kiểm soát: 37C1-129.99 có giá trị 8.000.000 đồng.
Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, bị cáo phạm tội nhiều lần và thuộc trường hợp tái phạm. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thờ gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt và có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật đã ra đầu thú và tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại do mình gây ra. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như lời người bào chữa là có căn cứ.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị bị cáo không có việc làm ổn định, tài sản riêng không có nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Văn S đã nhận lại xe. Tại phiên tòa anh vắng mặt, tuy nhên trong quá trình điều tra anh không yêu cầu gì nên miễn xét; Đối với chị La Thị L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 41.100.000 đồng. Xét yêu cầu của chị L là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án án phí nên được chấp nhận;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Lữ Văn C 03 (Ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/02/2025.
Về dân sự: Áp dụng Điều 585, Điều 589 của BLDS. buộc bị cáo Lữ Văn C phải bồi thường cho chị La Thị L số tiền 41.100.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí Hình sự và dân sự sơ thẩm cho bị cáo Lữ Văn C;
Bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo Ln Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Ln Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NA; - VKSND tỉnh NA; - VKSND huyện Con Cuông; - CA tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS huyện Con Cuông; - Bị cáo, người bị hại; - Lưu hồ sơ -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Văn Bảo |