- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH GIA LAI Bản án số: 22/2025/HNGĐ - ST Ngày: 19/9/2025 “V/v Tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hòa.
-Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thái Trọng Bình;
2. Bà Phạm Thị Thoa.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thuận - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 9- Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân Khu vực 9 - Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 68/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 về việc“Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 43/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Võ Quốc T, sinh ngày 06/6/1986; Số Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx. Địa chỉ: Thôn B, xã I (cũ là xã I, huyện C), tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Bị đơn: Chị Trần Thị Minh T1, sinh ngày 23/8/1996; Số Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx. Địa chỉ: Thôn B, xã I (cũ là xã I, huyện C), tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 29/4/2025, bản tự khai, tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn anh Võ Quốc T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Quốc T và chị Trần Thị Minh T1 tự nguyện tìm hiểu, không ai ép buộc có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai vào ngày 30/01/2015. Trong cuộc sống thỉnh thoảng vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhỏ, sau đó vợ chồng tự bỏ qua cho nhau chung sống bình thường. Đến năm 2023 anh phát hiện chị T1 chơi cờ bạc, không lo cho gia đình, mặc dù anh đã thường xuyên can ngăn, nhắc nhở nhưng chị T1 vẫn không nghe. Đến tháng 02/2024, do nợ nần nhiều nên chị T1 bỏ đi làm ăn xa, thỉnh thoảng có về thăm con rồi lại đi. Đến tháng 10/2024, anh có gửi đơn xin ly hôn với chị T1, nhưng sau đó anh rút đơn về để vợ chồng đoàn tụ, nhưng vợ chồng anh vẫn không hàn gắn được. Nay anh xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, vì vậy anh làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Thị Minh T1.
Về con chung: Anh Võ Quốc T và chị Trần Thị Minh T1 có 02 con chung là Võ Trần Trường A, sinh ngày 28/12/2015 và Võ Trần Hương D, sinh ngày 02/4/2018. Ly hôn, anh T có nguyện vọng được nuôi trực tiếp cả 02 con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T2 không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho anh.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Anh T2 không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, anh Võ Quốc T không có yêu cầu gì thêm.
Đối với bị đơn là chị Trần Thị Minh T1: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng chị T1 không đến Tòa án làm việc. Do đó, Tòa án không lấy được ý kiến của chị T1 đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Anh Võ Quốc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chư Păh (Nay là Toa án nhân dân Khu vực 9 – Gia Lai) theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tống tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Quốc T và chị Trần Thị Minh T1 có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 08, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai cấp ngày 30/01/2015. Nên hôn nhân giữa anh T và chị T1 là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng.
Trong quá trình chung sống, anh T cho rằng thỉnh thoảng vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhỏ, sau đó vợ chồng tự bỏ qua cho nhau chung sống bình thường. Đến năm 2023 anh phát hiện chị T1 chơi cờ bạc, không lo cho gia đình, mặc dù anh đã thường xuyên can ngăn, nhắc nhở nhưng chị T1 vẫn không nghe. Đến tháng 02/2024, do nợ nần nhiều nên chị T1 bỏ đi làm ăn xa, thỉnh thoảng có về thăm con rồi lại đi. Đến tháng 10/2024, anh có gửi đơn xin ly hôn với chị T1, nhưng sau đó anh rút đơn về để vợ chồng đoàn tụ, nhưng vợ chồng anh vẫn không hàn gắn được. Nay anh xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, vì vậy anh làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Thị Minh T1.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng và quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ, nhưng chị Trần Thị Minh T1 không lên Tòa án làm việc và không có ý kiến gửi cho Tòa án cho thấy chị T1 đã từ bỏ quyền lợi của mình, không muốn hàn gắn tình cảm với anh T và chính quyền địa phương cũng xác nhận năm 2024 chị T1 do chơi cờ bạc, nợ nần nên bỏ nhà đi, thỉnh thoảng có về thăm con rồi lại đi. Từ những cơ sở đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa anh T và chị T1 đã thật sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của anh T là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, tỉnh Gia Lai.
- Về con chung: Anh Võ Quốc T và chị Trần Thị Minh T1 có 02 con chung là Võ Trần Trường A, sinh ngày 28/12/2015 và Võ Trần Hương D, sinh ngày 02/4/2018. Ly hôn, anh T có nguyện vọng được nuôi trực tiếp cả 02 con chung.
Tại bản tự khai, bản ghi ý kiến của hai cháu Võ Trần Trường A và Võ Trần Hương D trình bày: Trong trường hợp bố mẹ các cháu ly hôn thì các cháu đều có nguyện vọng được ở với bố.
Xét yêu cầu của anh T và nguyện vọng của hai cháu Võ Trần Trường A và Võ Trần Hương D thấy rằng: Kể năm 2024 đến nay, khi chị T1 bỏ đi làm ăn xa, thì anh T là người nuôi trược tiếp hai con chung, anh T vẫn đảm bảo cho sự phát triển bình thường về mọi mặt của con. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án chị T1 không lên Tòa án làm việc, không trình bày ý kiến của mình. Do đó, căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu của anh T
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T2 không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho anh, nên không xem xét.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung khác: Anh T2 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì anh T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Quốc T được ly hôn với chị Trần Thị Minh T1.
- Về con chung: Giao 02 cháu là Võ Trần Trường A, sinh ngày 28/12/2015 và Võ Trần Hương D, sinh ngày 02/4/2018 cho anh T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên có khả năng lao động hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Minh T1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho anh Võ Quốc T.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Buộc anh Võ Quốc T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng anh T đã nộp tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu án phí, lệ phí Tòa án số: 0008475 ngày 08 tháng 5 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9).
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.
| Nơi nhận : -TAND tỉnh Gia Lai; -VKSND KV 9; -Phòng THADS KV 9; -UBND xã Chư Păh; -Đương sự; -Lưu HSVA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hòa |