vanban.org

Bản án 22/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Thiện được ly hôn chị Cử Thị Lầu. Về con chung: Giao cho anh Thiện được trực tiếp chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Ngọc Linh, sinh ngày 09 tháng 8 năm 2010. Chị Lầu không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Văn Thiện ly hôn với Chị Cử Thị Lầu"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ- ST
Ngày 27-9- 2025
“ V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Anh Vũ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đường Ngọc Đại và ông Nguyễn Xuân Thịnh

Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Hà Phan – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 42/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với một người đã bị Tòa án tuyên bố mất tích; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐST - HNGĐ ngày 17 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Thiện, sinh năm 1980; Trú tại: Tổ dân phố An Đồng, phường Xuân Hòa, tỉnh Phú Thọ, “có mặt”.

Bị đơn: Chị Cử Thị Lầu, sinh năm 1982; Số CMND: xxxxxxxxx; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng trước khi vắng mặt: Tổ dân phố An Đồng, phường Xuân Hòa, tỉnh Phú Thọ, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn yêu cầu đề ngày 05 tháng 8 năm 2025 và những lời khai tiếp theo nguyên đơn là anh Nguyễn Văn Thiện bày: Anh và chị Cử Thị Lầu được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phố Cáo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang (cũ), nay là xã Phố Bảng, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 08 tháng 9 năm 2008. Sau khi kết hôn chị Lầu về chung sống cùng gia đình anh tại tổ dân phố An Đồng, phường Xuân Hòa, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống ban đầu vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc và anh chị có 03 con chung. Năm 2011, chị Lầu bỏ đi khỏi nhà từ đó đến nay không có bất cứ tin tức gì. Trong thời gian chị Lầu bỏ đi khỏi nhà, anh và gia đình đã tổ chức tìm kiếm, trình báo chính quyền địa phương, Công an phường Xuân Hòa về việc biệt tích của chị Lầu, đăng tin tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị Lầu trên phương tiện thông tin đại chúng. Ngày 07 tháng 5 năm 2025, theo yêu cầu của anh Nguyễn Văn Thiện, Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên đã quyết định tuyên bố mất tích đối với chị Cử Thị Lầu, sinh năm 1982. Vì vậy, để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho mình, anh đã có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Cử Thị Lầu.

Về con chung: Anh và chị Cử Thị Lầu có 03 con chung, hiện các cháu Nguyễn Thị Ngọc Hà, sinh ngày 21 tháng 02 năm 2003 và cháu Nguyễn Thị Minh Giang, sinh ngày 17 tháng 6 năm 2006 đã trưởng thành. Vì vậy anh không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết. Đối với cháu Nguyễn Ngọc Linh, sinh ngày 09 tháng 8 năm 2010 đang học lớp 10 Trường THPT Xuân Hòa, anh đề nghị Tòa án giao cháu Linh cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có thể lao động tự túc được và không yêu cầu chị Lầu phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: Anh Thiện không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết.

Đối với chị Cử Thị Lầu đã bị Tòa án tuyên bố mất tích từ tháng 5 năm 2025. Kết quả xác minh tại Uỷ ban nhân dân phường Xuân Hòa, tỉnh Phú Thọ (nơi cư trú cuối cùng của chị Lầu trước khi bỏ đi biệt tích) cho thấy: Chị Lầu đã bỏ nhà đi từ năm 2011 đến nay vẫn không có tin tức gì và hiện tại chị Lầu không có mặt tại địa phương. Kể từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án tại Ủy ban nhân dân phường Xuân Hòa nhưng đến ngày 27 tháng 9 năm 2025 khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai chị Lầu vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án không thu thập được tài liệu, chứng cứ, bản tự khai của chị Lầu. Do đó, Tòa án chỉ tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải theo thủ tục chung. Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và kết quả xác minh của Tòa án tại chính quyền địa phương nơi cư trú cuối cùng của chị Lầu để xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn Thiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn với chị Cử Thị Lầu và giải quyết về con chung và không yêu cầu chị Lầu phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ:

- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, đã xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm. Do bị đơn là chị Cử Thị Lầu đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, nên Tòa án quyết định đưa ra xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Do chị Cử Thị Lầu đã bị Tòa án tuyên bố mất tích nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 53, khoản 2 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn Thiện, xử cho anh Nguyễn Văn Thiện được ly hôn với chị Cử Thị Lầu; về con chung: Giao cho anh Thiện được trực tiếp chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Ngọc Linh, sinh ngày 09 tháng 8 năm 2010 và không yêu chị Lầu phải đóng góp, cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Viện kiểm sát không có ý kiến; về án phí: Anh Thiện phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Bị đơn là chị Cử Thị Lầu bị Tòa án tuyên bố mất tích nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 208, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Thiện và chị Cử Thị Lầu là vợ chồng, có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã Phố Cáo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang (cũ) nay là xã Phố Bảng, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 08 tháng 9 năm 2008 nên quan hệ hôn nhân của anh Thiện và chị Lầu là hợp pháp. Căn cứ vào đơn yêu cầu xin ly hôn chị Lầu của nguyên đơn anh Nguyễn Văn Thiện; căn cứ Quyết định số 01/2025/QĐST- VDS ngày 07 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên (cũ) nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ về việc tuyên bố chị Cử Thị Lầu mất tích. Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật đến ngày Tòa án mở phiên tòa, chị Lầu vẫn vắng mặt. Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Văn Thiện, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, cho anh Nguyễn Văn Thiện được ly hôn với chị Cử Thị Lầu.

Về con chung: Giao cho anh Thiện được trực tiếp chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Ngọc Linh, sinh ngày 09 tháng 8 năm 2010. Chị Lầu không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Thiện.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: Anh Thiện không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn Thiện phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, 35, 39, 227, 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Thiện được ly hôn chị Cử Thị Lầu.

Về con chung: Giao cho anh Thiện được trực tiếp chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Ngọc Linh, sinh ngày 09 tháng 8 năm 2010. Chị Lầu không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở, gây khó khăn.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Anh Nguyễn Văn Thiện không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn Thiện phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001688 ngày 25 tháng 8 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên. Anh Thiện đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ