vanban.org

Bản án 22/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Oanh-Quyền"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯ PRÔNG
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 22/2025/HNGĐ - ST
Ngày 27/6/2025
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PRÔNG, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Nhiều.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Công Chự và ông Nguyễn Ngọc Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Đức Quang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân

huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Prông – Gia Lai tham gia

phiên tòa: Bà Trần Thị Nhất Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Prông,

tỉnh Gia Lai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 262/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phùng Thị Tú Oanh, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Thôn Bắc Thái, xã Ia Lâu, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Có đơn

xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Bàn Văn Quyền, sinh năm 1998.

Địa chỉ: Thôn Đồng Tâm, xã Ia Ga, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Vắng

mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn chị

Phùng Thị Tú Oanh trình bày:

Về hôn nhân: Tôi và anh Bàn Văn Quyền qua tìm hiểu tự nguyện và đi đến

hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Ia Ga, huyện Chư Prông vào ngày 28/9/2018. Bước đầu sống chung hạnh phúc được một thời gian thì mâu thuẫn xảy ra. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng qua điểm nên không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, mặc dù hai bên gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng vợ chồng không thể hàn gắn, vợ chồng tôi đã ly thân từ tháng 10 năm 2019 cho đến nay, vợ chồng không quan tâm gì đến cuộc sống của nhau nữa. Nay tôi nhận thấy tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi đề nghị Tòa án cho tôi được ly hôn với anh Quyền.

Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là Bàn Thị Diễm My, sinh ngày

03/02/2019. Hiện tại cháu đang ở với anh Quyền, ly hôn tôi đồng ý tiếp tục giao con cho anh Quyền được tiếp tục nuôi dưỡng con chung cho đến khi con trưởng thành, về cấp dưỡng nuôi con chung vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Bàn Văn Quyền: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt

hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hòa giải, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về việc nêu ý kiến đối với phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng anh Quyền không đến Tòa án để làm việc, không cung cấp cho Tòa án văn bản để trình bày quan điểm ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.

Quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân

huyện Chư Prông có quan điểm như sau:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền giải quyết, xác định tư cách pháp lý người

tham gia tố tụng trong vụ án và Toà án ban hành thông báo thụ lý vụ án, gửi thông báo cũng như tiến hành các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, thu thập chứng cứ cũng như tống đạt văn bản tố tụng và đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn luật định. Việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39,

điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phùng Thị Tú Oanh.

Về hôn nhân: Chị Phùng Thị Tú Oanh và anh Bàn Văn Quyền được ly hôn

trước pháp luật.

Về con chung: Có 01 con chung tên là Bàn Thị Diễm My, sinh ngày

03/02/2019 hiện đang sinh sống cùng anh Quyền, khi ly hôn chị Oanh đồng ý để anh Quyền được tiếp tục nuôi dưỡng con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là Bàn Thị Diễm My cho anh Quyền được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Về cấp dưỡng: Trong quá trình giải quyết vụ án chị Oanh không yêu cầu

anh Quyền phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không

xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Phùng Thị Tú Oanh phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ

thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm

tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án về

“Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn chị Phùng Thị Tú Oanh và bị đơn anh Bàn Văn Quyền cùng có nơi cư trú tại huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân huyện Chư Prông thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn chị Oanh đã có đơn xin xét xử

vắng mặt, trong đơn xin xét xử vắng mặt chị Oanh trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ý kiến như trong bản tự khai và biên bản hòa giải. Đối với bị đơn anh Quyền đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng với quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử nhận thấy việc kết hôn giữa chị

Oanh và anh Quyền ngày 28/9/2018 tại Uỷ ban nhân dân xã Ia Ga, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai là hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật, không bị lừa dối, ép buộc, không vi phạm điều kiện kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tóa án theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng anh Quyền không đến Toà án để làm việc, không cung cấp cho Toà án văn bản trình bày ý kiến cũng như các chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Như vậy, căn cứ Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì anh Quyền đã từ bỏ quyền chứng minh của mình đối với vụ án và không phản đối những tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn giao nộp cho Tòa án. Điều này chứng tỏ anh Quyền không có trách nhiệm đối với hôn nhân của mình, không có thiện chí trong việc giải quyết mâu thuẫn gia đình và hàn gắn tình cảm vợ chồng và phù hợp với lời trình bày có xác nhận của chính quyền địa phương về tình trạng hôn nhân giữa chị Oanh và anh Quyền. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phùng Thị Tú Oanh đối với anh Bàn Văn Quyền.

[4] Về nuôi con: Chị Oanh và anh Quyền có 01 con chung tên là Bàn Thị

Diễm My, sinh ngày 03/02/2019 hiện đang sinh sống cùng anh Quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án chị Oanh đồng ý để anh Quyền được tiếp tục nuôi dưỡng cháu My cũng như nguyện vọng của cháu My được anh Quyền tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao con chung Bàn Thị Diễm My cho anh Quyền được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Về cấp dưỡng: Trong quá trình giải quyết vụ án chị Oanh không yêu cầu

Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung cũng như anh Quyền không có ý kiến gì về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về tài sản chung và thực hiện các nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương

sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Chị Phùng Thị Tú Oanh phải nộp án phí hôn nhân và gia đình

sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 4, 5, 6, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, điểm

a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều

81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị Tú Oanh.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị Tú Oanh được ly hôn với anh Bàn

Văn Quyền.

2. Về con chung: Giao con chung là Bàn Thị Diễm My, sinh ngày

03/02/2019 cho anh Bàn Văn Quyền được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3. Về cấp dưỡng: Nguyên đơn chị Phùng Thị Tú Oanh không yêu cầu Tòa

án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung cũng như bị đơn anh Bàn Văn Quyền không có ý kiến gì về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi dưỡng con vẫn có quyền đến thăm nom con,

người trực tiếp nuôi con không được cản trở nếu họ không lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con, trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không đảm

bảo quyền lợi về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Hai đương sự đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phùng Thị Tú Oanh phải nộp

300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước đây là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0007071 ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Chị Phùng Thị Tú Oanh đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành

án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền

kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ