vanban.org

Bản án 22/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho Chị Tráng Thị S được ly hôn anh Vừ A T. Quan hệ hôn nhân của chị Tráng Thị S và anh Vừ A T chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Về con: Anh Vừ A T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Vừ A T, sinh ngày 06/5/2015 và cháu Vừ Thị Nh, sinh ngày 08/8/2016 cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm thời chị Tráng Thị S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tráng Thị S ly hôn anh Vừ A T"
  • Tòa quyết gì? Xử cho Chị Tráng Thị S được ly hôn anh Vừ A T. Quan hệ hôn nhân của chị Tráng Thị S và anh Vừ A T chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7-LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ – ST
Ngày 16 tháng 9 năm 2025.
“ V/v Ly hôn,tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Duy Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Vũ Minh Huấn;

2. Ông: Sùng A Cở;

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7- Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7-Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 7 – Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2025/TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2025 về: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2025; Giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tráng Thị S, sinh ngày 10/12/1984;

Địa chỉ: Thôn D2, xã D, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là thôn D2, xã D, tỉnh Lào Cai).

Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Vừ A T, sinh ngày 09/10/1989.

Địa chỉ: Thôn D2, xã D, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là thôn D2, xã D, tỉnh Lào Cai).

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện nộp Tòa án ngày 25/6/2025 và trong quá trình Tòa án giải quyết, nguyên đơn chị Tráng Thị S trình bày:

Chị và anh Vừ A T chung sống với nhau từ năm 2004 đến ngày 18/8/2015 thì làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là xã Dền Sáng, tỉnh Lào Cai) theo giấy chứng nhận kết hôn số 23, quyển số 01/2015.

Quá trình chung sống anh chị sống với nhau hạnh phúc được 14 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, xuất phát từ đó vợ chồng luôn cãi vã, đánh nhau. Sau khi mâu thuẫn sảy ra đã được anh em bạn bè khuyên giải nhưng mâu thuẫn không cải thiện được, thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2024, từ khi sống ly thân không quan tâm đến nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trở nên trầm trọng, chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Vừ A T.

Về con: Trong thời gian chung sống, vợ chồng sinh được 04 con chung, cháu thứ nhất Vừ Thị L, sinh ngày 18/8/2004, cháu thứ hai Vừ A B, sinh ngày 09/3/2006, cháu thứ ba Vừ A T, sinh ngày 06/5/2015 và cháu thứ tư Vừ Thị Nh, sinh ngày 08/8/2016. Đối với cháu Vừ Thị L và cháu Vừ A B đã đến tuổi trưởng thành nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng. Đối với cháu Vừ A T và Vừ Thị Nh khi ly thân các cháu vẫn ở với anh T, vì vậy chị đồng ý để hai con chung cho anh Vừ A T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị và anh Vừ A T không nợ ai và không cho ai vay, vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Vừ A T, Tòa án đã giao các văn bản tố tụng cho anh Tùng, nhưng anh từ chối nhận văn bản, anh Tùng đã được nghe, đọc nội dung các văn bản tố tụng nhưng không ký nhận, Tòa án đã phải lập biên bản về việc từ chối nhận văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, mặc dù anh Tùng đã biết được nội dung chị Tráng Thị S khởi kiện về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn nhưng không có văn bản trả lời và không nộp tài liệu, chứng cứ cho Toà án.

Đối với vụ án này Tòa án không hòa giải được vì chị Tráng Thị S có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải.

Tại phiên toà:

Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai có quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án dân sự tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, đảm bảo việc giải quyết vụ án dân sự kịp thời, đúng pháp luật, thu thập chứng cứ đúng theo quy định pháp luật. Thư ký phiên toà và nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 sửa đổi, bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy địnhvề mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Tráng Thị S được ly hôn anh Vừ A T.

Về con chung: Giao cả hai con chung, cháu Vừ A T, sinh ngày 06/5/2015 và cháu Vừ Thị Nh sinh ngày 08/8/2016 cho anh Vừ A T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Tráng Thị S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về án phí: Chị Tráng Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Vừ A T có địa chỉ tại thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là thôn C, xã B, tỉnh Lào Cai). Như vậy Tòa án nhân dân Khu vực 7- Lào Cai thụ lý vụ án là phù hợp với khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 35 sửa đổi, bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025.

Chị Tráng Thị S có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Vừ A T vắng mặt lần hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Tráng Thị S và anh Vừ A T.

Chị và anh Vừ A T chung sống với nhau từ năm 2004 đến ngày 18/8/2015 thì làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là xã D, tỉnh Lào Cai) theo giấy chứng nhận kết hôn số 23, quyển số 01/2015 trên cơ sở tự nguyện, như vậy hôn nhân này là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ và công nhận.

Xét đối với yêu cầu của nguyên đơn:

Theo nguyên đơn trình bày thì quá trình chung sống anh chị sống với nhau hạnh phúc được 14 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, xuất phát từ đó vợ chồng luôn cãi vã, đánh nhau. Sau khi mâu thuẫn sảy ra đã được anh em bạn bè khuyên giải nhưng mâu thuẫn không cải thiện được, thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2024, từ khi sống ly thân không quan tâm đến nhau. Xét thấy mâu thuẫn của chị Sính và anh Tùng là có thật, mâu thuẫn của vợ chồng, do chị Sính cung cấp phù hợp với nội dung xác nhận của địa phương. Nay chị Sính xin ly hôn là có căn cứ, chấp nhận yêu cầu của chị Sính, áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho chị Tráng Thị S đựợc ly hôn anh Vừ A T.

Về con: Chị Tráng Thị S và anh Vừ A T sinh được 04 con chung, cháu thứ nhất Vừ Thị L, sinh ngày 18/8/2004, cháu thứ hai Vừ A B, sinh ngày 09/3/2006, cháu thứ ba Vừ A T, sinh ngày 06/5/2015 và cháu thứ tư Vừ Thị Nh, sinh ngày 08/8/2016. Đối với cháu Vừ Thị Lè và cháu Vừ A Bác đã đến tuổi trưởng thành, các cháu sống khỏe mạnh, vì vậy Tòa án không giải quyết. Đối với cháu Vừ A T và Vừ Thị Nh khi ly hôn chị đồng ý để hai con chung cho anh Vừ A T trực tiếp nuôi dưỡng.

Xét thấy anh Vừ A T quá trình giải quyết anh không đến Tòa án, tại biên bản xác minh về điều kiện nuôi con thì thu nhập của anh Tùng là lao động tự do tại địa phương có thu nhập bình quân là 200.000 đồng/ngày, từ khi vợ chồng sống ly thân năm 2017 các cháu đều đang sống với anh Vừ A T, quá trình sống tại nơi cư trú, anh Tùng thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, khi hỏi ý kiến của các cháu Vừ A T và Vừ Thị Nh, thì các cháu có nguyện vọng muốn ở với anh Vừ A T, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Tráng Thị S, giao cả hai con chung cho anh Vừ A T nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung:

Quá trình giải quyết vụ án anh Vừ A T không đến Tòa án và cũng không có văn bản trả lời về việc nuôi con chung, vì vậy tạm thời chị Tráng Thị S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản: Chị Tráng Thị S không yêu cầu Toà án giải quyết, trong quá trình chung sống vợ chồng không nợ ai và không cho ai vay, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, chị Tráng Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 35 sửa đổi, bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Xử cho Chị Tráng Thị S được ly hôn anh Vừ A T. Quan hệ hôn nhân của chị Tráng Thị S và anh Vừ A T chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con: Anh Vừ A T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Vừ A T, sinh ngày 06/5/2015 và cháu Vừ Thị Nh, sinh ngày 08/8/2016 cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm thời chị Tráng Thị S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Chị Tráng Thị S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Tráng Thị S phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án, phí lệ phí Tòa án số 0000227 ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ