- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn đối với anh Phạm Văn T. Quan hệ hôn nhân của chị Phạm Thị H và anh Phạm Văn T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC3 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19/9/2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Nhàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phiếu
Bà Nguyễn Thị Phương Thiệu
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng -Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3-Ninh Bình
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hòa– Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3-Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025;về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:Chị Phạm Thị H sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình; Nơi ở hiện tại: Xóm V, phường H, tỉnh Ninh Bình. Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Phạm Văn T sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình. ( Vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện,bản tự khai, Nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T được tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đăng ký kết hôn ngày 02/03/2009 tại UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (Nay là xã G, T) Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị và anh thắng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống và không còn tình cảm với nhau.Trong thời gian sinh sống hai vợ chồng chị mâu thuẫn càng trầm trọng khiến không khí gia đình căng thẳng. Kể từ năm 2015, chị H và các con đã đưa nhau về quê ngoại ở Đội 1 P, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình ( nay phường H, tỉnh Ninh Bình) cho đến nay. Chị H thấy cho đến nay mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng không còn ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nên chị làm đơn này đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn T .
Về con chung chị H và anh T có 02 con chung là cháu Phạm Mạnh C sinh ngày 09/9/2009 và cháu Phạm Như Q sinh ngày 05/8/2012 hiện nay cháu C và cháu Q đang ở với chị H. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi cả hai cháu đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung và công nợ chung không có nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại đơn xin xử vắng mặt chị Phạm Thị H vẫn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn T vì tình cảm anh chị không còn. Về con chung chị đề nghị được nuôi dưỡng chăm sóc hai cháu Phạm Mạnh C sinh ngày 09/9/2009 và cháu Phạm Như Q sinh ngày 05/8/2012 đến khi các cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và công nợ chung chị H không đề nghị tòa án giải quyết.
Lời trình bày của bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh T mặc dù đã được Tòa án triệu tập và thông báo hợp lệ nhưng vẫn không có mặt và không nộp (gửi) cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của anh T đối với yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có) Quá trình giải quyết Tòa án nhân dân khu vực 3- Ninh Bình đã tiến hành làm việc trực tiếp với anh T tại địa phương tuy nhiên do anh T đi làm không có ở nhà nên đã làm việc bố đẻ anh T là ông Phạm Văn Q1 đã có ý kiến trao đổi lại với Tòa án. Anh T đã biết việc chị H xin ly hôn anh và về quan hệ hôn nhân giữa chị H và T: chị H trình bày thời gian địa điểm kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng chị H trình bày là đúng. Đối với con chung anh T và chị H có hai con chung là cháu Phạm Mạnh C sinh ngày 09/9/2009 và cháu Phạm Như Q sinh ngày 05/8/2012 hiện nay cháu C và cháu Q đang ở với chị H. Khi ly hôn ông Q1 không biết anh T có ý kiến gì không vì việc ly hôn và nuôi con là việc của anh T với chị H nên ông không can thiệp và có ý kiến gì. Toàn quyền quyết định là của anh T với chị H nên không trình bày thêm gì nữa. Tòa án nhân dân khu vực 3- Ninh Bình đã tiến hành xác minh và xác định được bị đơn anh Phạm Văn T có nơi cư trú ở thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình tuy nhiên anh T đi làm, lúc gia đình có việc anh T mới về nhà. Tòa án không thể tiến hành được việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Phạm Văn T nên đã tiến hành giao các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho người thân của anh T để thông báo cho anh T được biết..
Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Ninh Bình tham gia tố tụng tại phiên tòa giải quyết vụ án sơ thẩm phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, điểm b, khoản 2, Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326 ngày30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn đối với anh Phạm Văn T. Quan hệ hôn nhân của chị Phạm Thị H và anh Phạm Văn T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục đối với các cháu Phạm Mạnh C sinh ngày 09/9/2009 và cháu Phạm Như Q sinh ngày 05/8/2012 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Phạm Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.
- “Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở giáo dục con; Cha mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”
- Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Phạm Thị H không yêu cầu, Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Phạm Thị H phải nộp toàn bộ án phí ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại phòng thi hành án dân sự khu vực 3- Ninh Bình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định các vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau:
.Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn; Tòa án nhân dân khu vực 3- Ninh Bình giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phạm Thị H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Theo khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải là có căn cứ.
- Ngày 18/8/2025 là nguyên đơn chị Phạm Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định Điều 227; Khoản 1, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H.
- Anh Phạm Văn T là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự
.Về áp dụng pháp luật nội dung:
.Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị H và anh Phạm Văn T được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào ngày 02/3/2009 tại UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình ( nay xã G, tỉnh Ninh Bình) trên cơ sở tự nguyện đây là cuộc hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 29 ngày 02/3/2009. Đây là hôn nhân hợp pháp theo Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Sau khi kết hôn vợ chồng chị H và anh T chung sống hòa thuận hạnh phúc được đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị không có tiếng nói chung. Trong thời gian sinh sống hai vợ chồng anh chị mâu thuẫn càng trầm trọng khiến không khí gia đình căng thẳng. Năm 2015 chị H và anh T đã sống ly thân chị H đã chuyển về ở với bố mẹ để tại xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình ( nay phường H, tỉnh Ninh Bình) cho đến nay mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng không còn ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa nên chị H đề nghị xin ly hôn anh T. Anh T thì ở nhà của mình ở xã G, tỉnh Ninh Bình. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng sống ly thân chị H đã về nhà bố mẹ để của mình ở xã N, huyện H; cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau; chính quyền địa phương nơi anh T cư trú cũng xác nhận có đăng ký kết hôn tại UBNDxã G, huyện G ( xã G, tỉnh Ninh Bình), tuy nhiên anh T và chị H không chung sống với nhau ở thôn T, xã G,.nguyên nhân mâu thuẫn chính quyền địa phương không nắm được mà chỉ biết chị H và các con thì về nhà bố mẹ đẻ để ở. Anh T thì vẫn ở nhà bố mẹ anh T ở thôn T, xã G Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận đơn khởi kiện của chị H, xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Phạm Văn T là phù hợp Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
.Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Phạm Văn T có 02 con chung là cháu Phạm Mạnh C sinh ngày 09/9/2009 và cháu Phạm Như Q sinh ngày 05/8/2012 hiện nay cháu C và cháu Q đang ở với chị H. Từ khi chị H và anhn T dọn ra chỗ khác ở không còn ở cùng nhau từ năm 2015 cho đến nay cháu C và cháu Q do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị H đề nghị nuôi cả hai cháu. Xét thấy Chị H có thu nhập ổn định, đủ điều kiện đảm bảo cuộc sống cho các cháu và cháu Q và cháu C đều có đơn đề nghị trình bày nguyện vong được ơt với mẹ do từ năm 2015 đến nay chị H là người chăm sóc và nuôi dạy cac cháu tạo điều kiện cho các cháu học hành. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án giao cho chị Phạm Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Mạnh C sinh ngày 09/9/2009 và cháu Phạm Như Q sinh ngày 05/8/2012 đến khi hai cháu đủ 18 tuổi.
.Về tài sản chung, công nợ chung: Chị H không yêu cầu do vậy Hội đồng xét xử không xem xét
.Về án phí:
- Án phí ly hôn: Chị Phạm Thị H chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, điểm b, khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn đối với anh Phạm Văn T. Quan hệ hôn nhân của chị Phạm Thị H và anh Phạm Văn T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Mạnh C sinh ngày 09/9/2009 và cháu Phạm Như Q sinh ngày 05/8/2012 đến khi hai cháu đủ 18 tuổi. Về câp dưỡng nuôi con: Anh Phạm Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.
- “Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở giáo dục con; Cha mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”
- Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung, công nợ chung: Tòa án không xem xét.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí tại Phòng thi hành án Dân sự khu vực 3- Ninh Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000285 ngày 04 tháng 8 năm 2025.
Án xử công khai sơ thẩm chị H và anh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND KV3-Ninh Bình; - THA tỉnh Ninh Bình; - UBND xã Gia Vân; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Thị Thanh Nhàn THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Thị Thanh Nhàn |