- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng N - Nguyễn Hữu Linh T "Ly hôn""
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng N.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29-8-2025 V/v: Tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Lê Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Cang và bà Đào Thị Ngâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Đức Duy – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk tham gia phiên toà: Ông Đặng Quốc Cường – Kiểm sát viên.
Vào ngày 29 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2025/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025, về tranh chấp“Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/7/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12/8/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Hồng N, sinh năm: 1999; Địa chỉ: khu phố 4, phường P, thành phố T, tinh Phú Yên (nay là khu phố P4, phường P, tỉnh Đắk Lắk).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu Linh T, sinh năm: 1992; Địa chỉ: 14/66 P, khu phố N4, Phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk).
Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt (nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi (N) và ông Nguyễn Hữu Linh T tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND Phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là phường B, Đắk Lắk) vào năm 2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian, thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau. Đến tháng 11/2024, vợ chồng không còn sống chung nữa, tôi đã về nhà của cha mẹ ruột để sống từ đó đến nay, không còn ai quan tâm đến ai. Nay thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi làm đơn yêu cầu được ly hôn với ông T để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Vũ Hồng A, sinh ngày 03/11/2023. Hiện con đang sống cùng với tôi. Ly hôn tôi xin được nuôi con và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con trưởng thành.
- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
* Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên không có lời khai và không tiến hành hòa giải được.
Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk đã tiến hành hòa giải nhưng không được.
* Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Phạm Thị Hồng N được ly hôn ông Nguyễn Hữu Linh T. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Vũ Hồng Anh cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời hạn cấp dưỡng tính từ tháng 8/2025 và chấm dứt khi phát sinh một trong các trường hợp được quy định tại Điều 118 của Luật hôn nhân và gia đình. Về tài sản chung: không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng N và bị đơn ông Nguyễn Hữu Linh T tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND Phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là phường T, Đắk Lắk) vào năm 2022, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn như đương sự đã trình bày. Vợ chồng đã không còn sống chung với nhau từ tháng 11/2024 cho đến nay, không còn ai quan tâm đến ai; vợ, chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, là vi phạm nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Vũ Hồng A, sinh ngày 03/11/2023. Ly hôn nguyên đơn xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con trưởng thành. Xét thấy, hiện con chung đang sống cùng với nguyên đơn và con chung dưới 36 tháng tuổi nên việc nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là có căn cứ và phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở và có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 59, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 và 118 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng N.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Hồng N được ly hôn ông Nguyễn Hữu Linh T.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Vũ Hồng A, sinh ngày 03/11/2023 cho bà Phạm Thị Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Hữu Linh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Thời hạn cấp dưỡng tính từ tháng 8/2025 và chấm dứt khi phát sinh một trong các trường hợp được quy định tại Điều 118 của Luật hôn nhân và gia đình. Ông Nguyễn Hữu Linh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0005818 ngày 25/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.
Ông Nguyễn Hữu Linh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Viện KSND KV11; - THADS tỉnh Đắk Lắk; - Các đương sự; - UBND phường C (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk); (Giấy CNKH số 132, ngày 28/12/2022); - Lưu hồ sơ vụ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Lƣơng Văn Cang Đào Thị Ngâm | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Lê Mai THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Lê Mai |