vanban.org

Bản án 22/2025/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào khoản 1 Điều 89; Điều 101; khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Ban an A-L-Đ"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào khoản 1 Điều 89; Điều 101; khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27-03-2025
V/v: Tranh chấp về xác định cha
cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thoảng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vương Thị Thu Lan

2. Bà Nguyễn Thị Thiên

- Thư ký phiên toà: Bà Nghiêm Thị Vân Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Lộc Hồng Điệp – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 281/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc: Tranh chấp về xác định cha cho con. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Bùi Tuấn A, sinh năm 1986 Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Chị Quách Thị L, sinh năm 1997 Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt). 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đồng Văn Đ, sinh năm 1993. Địa chỉ: Xóm A, thôn Đ, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn anh Bùi Tuấn A trình bầy: Tôi và chị Quách Thị L quen nhau từ tháng 10 năm 2023 trong thời gian tôi và chị L ở cùng nhau có phát sinh quan hệ tình dục và đã có con riêng là con trai do chị L sinh ra vào ngày 08/11/2024 tại Trung tâm y tế huyện V, tỉnh Yên Bái (dự định đặt tên con trong giấy khai sinh là Bùi Hải Đ1 sinh ngày 08/11/2024). Khi chị L mang thai thì chị L và anh Đồng Văn Đ chưa có Quyết định ly hôn của Toà án. Tôi đã làm thủ tục xét nghiệm ADN với con trai của chị Quách Thị L tại Công ty TNHH D và có kết quả số: 20879224 ngày 15/11/2024 kết luận anh Bùi Tuấn A có huyết thống bố con với người có tên dự định đặt là Bùi Hải Đ1 sinh ngày 08/11/2024 do chị Quách Thị L sinh ra. Nay tôi đề nghị Toà án nhân dân huyện Văn Yên xác nhận cho tôi là cha với con trai do chị Quách Thị L sinh ra là người có tên dự định đặt là cháu Bùi Hải Đ1 sinh ngày 08/11/2024. Ngoài ra tôi không yêu cầu gì thêm nữa.

Tại bản tự khai chị Quách Thị L trình bầy: Tôi và anh Bùi Tuấn A có quan hệ tình dục và đã có con là con trai do tôi sinh ra vào ngày 08/11/2024 tại Trung tâm y tế huyện V, tỉnh Yên Bái (dự định đặt tên con trong giấy khai sinh là Bùi Hải Đ1 sinh ngày 08/11/2024). Khi tôi mang thai thì tôi và anh Đồng V Đạt địa chỉ: Xóm A, thôn Đ, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội chưa có Quyết định ly hôn của Toà án. Tôi và anh Đ ly hôn nhau tại Quyết định số: 216/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội. Cháu trai dự định đặt tên là Bùi Hải Đ1 mang thai trong thời kỳ hôn nhân giữa tôi và anh Đ nhưng anh Đ không phải là bố đẻ của cháu. Nay anh Bùi Tuấn A yêu cầu xác nhận cha con với con trai do tôi sinh ra là cháu dự định đặt tên con trong giấy khai sinh là Bùi Hải Đ1 sinh ngày 08/11/2024 tại Trung tâm y tế huyện V, tỉnh Yên Bái. Tôi xác định cháu trai dự định đặt tên là Bùi Hải Đ1 do tôi sinh ra chính là con đẻ của anh Bùi Tuấn A và đã thực hiện giám định ADN tại Công ty TNHH D và có kết quả số: 20879224 ngày 15/11/2024 kết luận anh Bùi Tuấn A có huyết thống bố con với người có tên dự định đặt là cháu Bùi Hải Đ1 sinh ngày 08/11/2024. Tôi nhất trí với yêu cầu của anh Bùi Tuấn A về xác nhận cha con. Tôi không có ý kiến gì thêm.

Sau khi thụ lý vụ án. Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã nhiều lần báo gọi và gửi Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Đ không có mặt theo các giấy tờ của Tòa án. Hiện nay hộ khẩu của anh Đ tại Xóm A, thôn Đ, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội. Bố anh Đ là ông Đồng Văn L1 đã nhận giấy tờ của Toà án thay cho anh Đ và ông L1 có ý kiến như sau: Ông Đồng Văn L1 là bố đẻ của anh Đồng Văn Đ trước đây anh Đ có vợ là chị Quách Thị L, sinh năm 1997 địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau vợ chồng ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số: 216/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16/7/2024 của Toà án nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội. Do trước khi ly hôn giữa anh Đ và chị L phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến ly hôn. Trong thời gian ly thân tôi không được biết chị L ở đâu, làm gì. Tôi chỉ nắm được thông tin là chị L có sinh con với người khác sau thời gian ly hôn với anh Đ. Tôi và anh Đ khẳng định cháu bé do chị L sinh ra không có quan hệ huyết thống gì với anh Đ và gia đình tôi. Việc chị L sinh con thời điểm nào, con gái hay trai gia đình tôi không biết, không quan tâm đi lại. Từ khi anh Đ và chị L ly hôn cho đến nay gia đình tôi, anh Đ và chị L không liên hệ gì với nhau. Gia đình tôi và anh Đ khẳng định là anh Đ và chị L chỉ có 01 con chung là cháu Đồng Quang M sinh năm 2020. Hiện nay anh Đ đang đi làm thuê, thời gian từ 07 giờ sáng đến 20 giờ mới về. Tôi đã thông tin lại về việc Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đang giải quyết việc tranh chấp về xác định cha cho con. Anh Đ truyền lại cho tôi để tôi trình bầy nội dung như trên với Toà án. Ngoài ra anh Đ trình bầy thêm do hiện nay anh bận công việc nên không thể trực tiếp tham gia tố tụng tại Toà án được, anh đề nghị Toà án huyện Văn Yên giải quyết vắng mặt anh trong tất cả các hoạt động tiến hành tố tụng của Toà án vì anh không liên quan gì. Anh Đ từ chối tham gia tố tụng với bất kỳ tư cách nào. Quá trình làm việc với Toà án tôi đã nhận thay các văn bản tố tụng của Toà án và đã giao lại tận tay ngay trong ngày cho anh Đ. Trước khi làm việc và trình bầy nội dung trên, tôi cũng đã liên lạc qua điện thoại trao đổi với anh Đ. Anh Đ thống nhất, nhất trí với nội dung tôi trình bầy ở trên và cam đoan không khiếu nại, thắc mắc gì.

Toà án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên Toà án không tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự được.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự, quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 88; Điều 89; Điều 101; Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Tuấn A: Xác định anh Bùi Tuấn A sinh năm 1986, địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình là cha đẻ của cháu trai dự định đặt tên là Bùi Hải Đ1 sinh ngày 08/11/2024 (do chị Quách Thị L sinh ra) theo giấy chứng sinh số: 15914.GCS.15301.24 Quyển số: 00531 Trung tâm y tế huyện V, tỉnh Yên Bái ngày 08/11/2024.

Anh Bùi Tuấn A và chị Quách Thị L có quyền liên hệ với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền về đăng ký hộ tịch để làm thủ tục khai sinh cho con có tên dự kiến Bùi Hải Đ1 sinh ngày 08/11/2024 theo quy định pháp luật.

Về án phí: Anh Bùi Tuấn A được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp về xác định cha cho con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của Tòa án là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn; bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tư cách người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách của người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Về yêu cầu xác định cha cho con: Các đương sự đều xác định chị Quách Thị L và anh Đồng Văn Đ là vợ chồng, quá trình chung sống anh chị đã có mâu thuẫn và đã sống ly thân nhau từ tháng 10/2023. Trong thời gian chị L và anh Đ sống ly thân chưa ly hôn thì chị L và anh Bùi Tuấn A đã quen biết và có quan hệ tình dục với nhau và chị L đã mang thai, đến ngày 08/11/2024 chị Quách Thị L sinh con trai tại Trung tâm y tế huyện V, cháu trai dự định đặt tên là Bùi Hải Đ1 sinh ngày 08/11/2024 theo giấy chứng sinh số: 15914.GCS.15301.24 Quyển số: 00531 Trung tâm y tế huyện V, tỉnh Yên Bái ngày 08/11/2024.

Chị Quách Thị L và anh Đồng Văn Đ ly hôn tại Quyết định số: 216/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Khi ly hôn về con chung của chị L với anh Đ chỉ có 01 con chung là cháu Đồng Quang M sinh ngày 25/11/2020. Đối với cháu trai chị Quách Thị L sinh ra dự định đặt tên là Bùi Hải Đ1 sinh ngày 08/11/2024. Anh Bùi Tuấn A đã đi giám định ADN giữa anh và cháu trai do chị L sinh ra. Công ty TNHH D và có kết quả số: 20879224 ngày 15/11/2024 kết luận anh Bùi Tuấn A có huyết thống bố con với người có tên dự định đặt là Bùi Hải Đ1 sinh ngày 08/11/2024 độ tin cậy >99,9999%. Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử thấy rằng việc anh Bùi Tuấn A đề nghị Toà án xác định cha cho con của anh đối với cháu trai do chị Quách Thị L sinh ra dự định đặt tên là Bùi Hải Đ1 sinh ngày 08/11/2024 là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 89; Điều 102 Luật hôn nhân gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Anh Bùi Tuấn A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Phần đề nghị tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 89; Điều 101; khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Tuấn A: Xác định anh Bùi Tuấn A sinh năm 1986, địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình là cha đẻ của cháu trai dự định đặt tên là Bùi Hải Đ1 sinh ngày 08/11/2024 (do chị Quách Thị L sinh ra) theo giấy chứng sinh số: 15914.GCS.15301.24 Quyển số: 00531 Trung tâm y tế huyện V, tỉnh Yên Bái ngày 08/11/2024.

2. Anh Bùi Tuấn A và chị Quách Thị L có quyền liên hệ với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền về đăng ký hộ tịch để làm thủ tục khai sinh cho con có tên dự kiến Bùi Hải Đ1 sinh ngày 08/11/2024 theo quy định pháp luật.

3. Về án phí: Anh Bùi Tuấn A không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà anh Bùi Tuấn A đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái theo biên lai thu số: AA/2024/0000132 ngày 09 tháng 12 năm 2024.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ