vanban.org

Bản án 22/2025/HNGĐ-PT — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 06/08/2025 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Phan Anh T đối với ông Thái Hoàng N về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Giao cháu Thái Yến V (nữ), sinh ngày 21/12/2019 cho bà Lê Phan Anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Ông Thái Hoàng N không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Lê Phan Anh T - Thái Hoàng N"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ-PT
Ngày 06/8/2025
“V/v Tranh chấp thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chế Linh

Các Thẩm phán: Ông Võ Bảo Anh

Bà Võ Bích Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Phương Nhã là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phi - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2025/TLPT-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 33/2025/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai (Nay là Toà án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 371/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Phan Anh T, sinh năm 1993 (Có mặt).

Đăng ký thường trú: Khóm A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau (nay là khóm A, xã N, tỉnh Cà Mau).

Địa chỉ: A khu vực Y, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ (nay là 102B khu vực Y, phường C, thành phố Cần Thơ).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Phan Nguyễn Hoa T1 – Luật sư Văn phòng L1, thuộc Đoàn luật sư thành phố C (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Thái Hoàng N, sinh năm 1987 (Có mặt).

Địa chỉ: Số A ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ (nay là Số A ấp Đ, xã T, thành phố Cần Thơ).

- Người kháng cáo: Ông Thái Hoàng Nghĩa L bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 20/01/2025 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn - bà Lê Phan Anh T trình bày:

Bà và ông Thái Hoàng N kết hôn năm 2019 và có 01 người con chung tên Thái Yến V, sinh ngày 21/12/2019. Do thời gian chung sống nảy sinh mâu thuẫn nên bà và ông N thuận tình ly hôn, các bên thỏa thuận giao cháu V cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng theo quyết định số 53/2023/QĐ-HNGĐ ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Mặt khác, nội dung Quyết định còn thể hiện bà được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục cháu Thái Yến V theo quy định pháp luật, không ai được quyền cản trở.

Tuy nhiên, trong thời gian ông N trực tiếp nuôi con thì ông N đã không tạo điều kiện cho bà thăm gặp, đưa đón con. Dù là mẹ ruột của cháu V nhưng mỗi lần muốn thăm con, chở con đi chơi, chở con về nhà thăm ông bà ngoại thì đều bị ông N và gia đình ông N không cho phép. Việc cản trở này thể hiện rõ ở việc bà chỉ có thể đến thăm cháu V ở Trường mầm non trong vài phút ngắn ngủi, cháu V luôn nói nhớ bà và muốn được bà chở đi chơi nhưng bà lại không thể làm được việc đó vì bà không được đưa đón cháu đi học, không được đón ra khỏi trường do ông N dặn dò cô giáo và Nhà trường không cho bà đón con.

Ngoài ra, trong suốt gần 02 năm nay mặc cho bà có năn nỉ, van xin cở nào ông N luôn viện cớ, dùng mọi lý do khác nhau để không cho bà đón con, không cho con về thăm bà ngoại cho dù bà đã trình bày việc bà ngoại cháu V đang bệnh và rất nhớ cháu, rất muốn gặp cháu thì cũng hoàn toàn vô ích.

Hiện nay, công việc của ông N luôn bận rộn và không ở nhà thường xuyên. Mọi việc chăm sóc cháu V đều do ông bà nội phụ trách. Bà rất lo lắng vì ông bà đã cao tuổi, sức khỏe có thể không đảm bảo để chăm sóc một đứa trẻ nhỏ. Mặt khác, ông N đã lập gia đình mới, nên việc dành quyền trực tiếp nuôi cháu V cho bà là rất cần thiết, bà có nhiều thời gian để chăm sóc cho con, việc ông N muốn đến thăm con cũng sẽ thuận tiện. Bà đã có công việc ổn định hoàn toàn có thể đảm bảo cuộc sống đầy đủ cho con, bà sẵn sàng dành toàn bộ thời gian, tâm huyết để chăm sóc và giáo dục con.

Việc giao cháu V cho bà trực tiếp nuôi dưỡng không những phù hợp với thực tế, phù hợp với đạo đức xã hội và tình cảm đặc biệt thiêng liêng giữa mẹ và con, phù hợp với diễn biến tâm lí của trẻ nhỏ ở tuổi ăn, tuổi lớn mà còn là một việc hết sức nhân văn, đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho cháu, đồng thời cũng đảm bảo không ai cản trở quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung.

Chính vì những lý do trên, bà yêu cầu Tòa án thay đổi quyền nuôi con từ người trực tiếp nuôi dưỡng là ông Thái Hoàng N đối với con Thái Yến V sang cho bà.

* Tại Đơn tường trình ngày 27/4/2025 và quá trình giải quyết vụ án bị đơn

- ông Thái Hoàng N trình bày:

Ông và bà Lê Phan Anh T đăng ký kết hôn vào ngày 10/6/2019 và có 01 con chung là cháu Thái Yến V, sinh năm 2019. Do thời gian chung sống có nhiều sự bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên đã ly hôn. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 53 ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, hai bên thống nhất giao cháu V cho ông trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, khoảng nữa năm đầu thì ông có tạo điều kiện cho bà T đón con về ngoại chơi nhưng khi về cháu V có biểu hiện sợ hãi, không muốn đi cùng mẹ nên ông muốn để con lớn hơn xíu nữa rồi sẽ cho bà T đưa đón đi chơi.

Ông thừa nhận hiện tại đã có gia đình mới và vợ mới của ông cũng có một con riêng. Cả ông và vợ mới của ông đều yêu thương chăm sóc con của nhau nên không ảnh hưởng việc ông nuôi dưỡng cháu V. Việc hai tuần ông mới cho bà T thăm con một lần là do bà T tự nói khi làm việc với Thi hành án (việc này thi hành án không lặp thành văn bản).

Hiện tại, công việc của ông có thu nhập ổn định, việc ăn ở, học tập của cháu V cũng đều rất tốt nên ông không đồng ý giao cháu V cho bà T nuôi dưỡng.

- Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 33/2025/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ) đã tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Phan Anh T đối với ông Thái Hoàng N về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Giao cháu Thái Yến V (nữ), sinh ngày 21/12/2019 cho bà Lê Phan Anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Ông Thái Hoàng N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Thái Hoàng N, không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

2. Về án phí: Bà Lê Phan Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số 0004754 ngày 11/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ thành án phí.

Bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các bên theo luật định.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 06 tháng 5 năm 2025, bị đơn Thái Hoàng N nộp đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Phan Anh T.

Tại phiên toà phúc thẩm,

Bị đơn ông Thái Hoàng N vẫn giữ nguyên kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Phan Anh T. Vì lý do nguyên đơn đưa ra là không chính đáng, phía bị đơn vẫn tạo điều kiện cho nguyên đơn đến thăm cháu V thường xuyên; có cho đón cháu V về thăm bà ngoại thời gian đầu nhưng sau khi cháu V về nhà có biểu hiện sợ hãi, không muốn đi cùng mẹ nên ông muốn để cháu V lớn hơn xíu mới cho đón về thăm bà ngoại. Ông thừa nhận đã có gia đình mới nhưng việc ông có gia đình mới không ảnh hưởng đến việc ông chăm sóc, yêu thương, nuôi dưỡng cháu V. Hiện tại, công việc của ông có thu nhập ổn định, việc ăn ở, học tập của cháu V cũng đều rất tốt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Luật sư Phan Nguyễn Hoa T1 phát biểu quan điểm:

Thứ nhất, Ông N cho rằng cháu V hoảng sợ sau khi về nên không cho bà T rước cháu V là hoàn toàn không có. Cháu V luôn nói nhớ mẹ và muốn được mẹ chở đi chơi, muốn ôm mẹ ngủ, muốn ở với mẹ nhưng bà T lại không thể làm được việc đó vì bà T không được đón cháu ra khỏi trường, không được đón cháu V đi đâu hết, thậm chí là khi bà ngoại cháu V bệnh, bà T xin đón cháu V về thăm bà thì ông N vẫn không đồng ý.

Đồng thời ông N cho rằng lo sợ bà T bắt cóc con bỏ trốn (ghi nhận trong Biên bản làm việc ngày 21/03/2025 tại Hội liên hiệp phụ nữ xã Đ) do bà T có quen với người Trung Quốc. Đây là lý do vô lý, không chính đáng, vì thông qua các hình ảnh khi cháu V gặp mẹ thì cháu đều cười nói rất vui vẻ và bản thân bà T là mẹ ruột của bé không thể nào làm gì có hại cho đứa con mà mình đứt ruột sinh ra.

Hiện ông N cũng đã lập gia đình mới, vợ ông N cũng có một người con riêng và đang mang thai con chung của cả hai nên việc lo sợ của bà T về vấn đề mẹ kế con chồng là có cơ sở và việc chăm sóc cháu V sẽ không được như trước. Còn phía bà T hiện nay vẫn đang độc thân và sinh sống cùng mẹ nên việc giao cháu V cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp.

Thứ hai, ông N đang phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong 1 bản án dân sự, vừa phải chăm lo cho gia đình mới và chuẩn bị chào đón con chung của ông N và vợ mới nên về vấn đề tài chính sẽ bị ảnh hưởng; còn bà T hoàn toàn có đủ điều kiện kinh tế để chăm lo cho cháu V với nguồn thu nhập ổn định từ công việc HLV dạy yoga và dịch thuật Tiếng Trung. Việc dạy học là dạy tại nhà, thời gian do bà T chủ động sắp xếp nên bà có thể dành nhiều thời gian để chăm sóc cháu V hơn.

Từ những luận cứ đã trình bày nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của phía bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên tòa như sau:

Về thủ tục tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, các quy định pháp luật liên quan, đại diện Viện kiểm sát cho rằng ông Thái Hoàng N hiện là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thái Yến V theo Quyết định số 53/2023/QĐ-HNGĐ ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ nhưng có hành vi gây cản trở việc bà T trong việc thăm nom, chăm sóc cháu V thể hiện qua các chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ đã thẩm tra cho thấy, các bên tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Toà án nhân dân huyện Thới Lai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ) đã thụ lý là đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Mặc dù cả bà Lê Phan Anh T và ông Thái Hoàng N đều có điều kiện về kinh tế, đạo đức, chỗ ở và đều mong muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thái Yến V – một nguyện vọng chính đáng và phù hợp với pháp luật – nhưng trong quá trình thực hiện, ông N đã nhiều lần vi phạm quyền thăm nom, chăm sóc con chung của bà T. Căn cứ các vi bằng, tin nhắn và lời khai tại Tòa, cho thấy ông N cố tình gây cản trở việc bà T đón con đi chơi, thăm bà ngoại hoặc chăm sóc khi con bệnh. Các lý do ông N viện dẫn như cháu sợ mẹ, lo ngại bị đưa ra nước ngoài hay bị bắt cóc đều không có cơ sở, không phù hợp với thực tế tâm lý của trẻ và trái với quy định tại Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Việc hạn chế quyền của người mẹ như vậy là hành vi vi phạm pháp luật và ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển toàn diện của cháu V.

Hội đồng xét xử nhận thấy, cháu V vẫn vui vẻ, gắn bó và có tình cảm tốt với mẹ; việc tiếp tục để ông N trực tiếp nuôi con trong bối cảnh hiện nay sẽ khiến quyền làm mẹ của bà T tiếp tục bị cản trở, đồng thời cháu V sẽ thiếu hụt sự chăm sóc, yêu thương từ người mẹ – yếu tố cần thiết cho sự phát triển cả thể chất lẫn tinh thần của trẻ nhỏ. Do đó, vì lợi ích tốt nhất của con chưa thành niên, Tòa án có đủ cơ sở pháp lý và thực tiễn để thay đổi quyền trực tiếp nuôi dưỡng con sau ly hôn, giao cháu Thái Yến V cho bà Lê Phan Anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, đảm bảo quyền lợi chính đáng của cả mẹ và con, đúng quy định pháp luật và phù hợp với nguyên tắc nhân đạo trong xét xử các vụ án hôn nhân – gia đình.

Mặc dù ông Thái Hoàng N khẳng định việc ông đã có gia đình mới không ảnh hưởng đến trách nhiệm nuôi dưỡng con, nhưng Hội đồng xét xử nhận thấy, trong thực tế, khi một người tái hôn thì thời gian, tình cảm và nguồn lực kinh tế thường sẽ bị phân chia cho các mối quan hệ mới trong gia đình, từ đó có thể ảnh hưởng gián tiếp đến việc chăm sóc con chung. Bên cạnh đó, việc bà Lê Phan Anh T — với tư cách là mẹ ruột — lo lắng con gái phải sống trong môi trường có mẹ kế là điều chính đáng và dễ cảm thông, nhất là khi bà có đầy đủ điều kiện vật chất, tinh thần và đặc biệt là sự chủ động về thời gian để trực tiếp chăm sóc con. Hơn nữa, cháu V là bé gái, đang trong độ tuổi cần sự quan tâm sát sao từ người mẹ về cả thể chất lẫn tâm lý. Việc giao cháu V cho bà T nuôi dưỡng không những phù hợp với điều kiện thực tế mà còn đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ, đồng thời vẫn tạo điều kiện thuận lợi cho ông N thực hiện quyền thăm nom do hai bên cư trú không quá xa nhau.

Từ những nhận định trên cho thấy, Toà án cấp sơ thẩm giao quyền trực tiếp nuôi con cho bà T là có phù hợp với pháp luật. Kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở. Căn cứ Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Phan Anh T đối với ông Thái Hoàng N về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Giao cháu Thái Yến V (nữ), sinh ngày 21/12/2019 cho bà Lê Phan Anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Ông Thái Hoàng N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Thái Hoàng N, không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Phan Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số 0004754 ngày 11/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Cần Thơ) thành án phí.

3.Về án phí hôn nhân phúc thẩm: Ông Thái Hoàng N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân phúc thẩm. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông N đã nộp theo biên lai thu số 0004934 ngày 06/05/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Cần Thơ) thành án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ