vanban.org

Bản án 22/2025/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đỗ Phú N . Buộc anh Đinh Văn L phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Đỗ Phú N với tổng số tiền là 11.738.000đồng (mười một triệu bảy trăm ba mươi tám nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Anh Đỗ Phú N tranh chấp bồi thường thiệt hại sức khỏe với anh Đinh Văn L"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/DS-ST
Ngày: 09/9/2025
“V/v tranh chấp BTTH về sức khỏe”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Bảnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Để

Bà Phạm Thanh Tuyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - An Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Hoàng Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 83/2025/TLST-DS ngày 21 tháng 4 năm 2025 về “tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Đỗ Phú N , sinh năm 1986

Địa chỉ: ấp A, xã U, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Anh Đinh Văn L , sinh năm 1970

Địa chỉ: ấp T, xã A, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Đỗ Phú N trình bày: Ngày 10/10/2024 anh L đến quán cà phê của ông Lương Minh T1 ở ấp T, xã A, tỉnh An Giang thì có 04 người gồm ông P, ông Đ, ông L1 và ông P1 đang ngồi đánh bài. Khi đó anh L say xỉn đòi đánh bài nhưng ông P không đồng ý. Thấy vậy anh mới nói “Mày muốn đánh thì đánh với tao nè”. Hai bên lời qua tiếng lại thì anh L dùng tay đánh nhiều cái vào đầu và mặt anh, gây thương tích cho anh phải đi bệnh viện khám và điều trị, được bệnh viện chẩn đoán chấn thương đầu, vỡ thành trước xoang trán. Sau đó anh có trình báo Công an giải quyết, theo kết luận giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 9% (kèm theo Thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm). Do hai bên không thương lượng được việc bồi thường nên anh khởi kiện yêu cầu anh L bồi thường các khoản thiệt hại với tổng số tiền 17.138.000đồng (làm tròn), trong đó:

- Tiền điều trị tại Trung tâm y tế An Minh là 161.300đồng;

- Tiền điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang là 4.877.149đồng;

- Tiền xe chuyển viện, tái khám 03 lượt là 1.800.000đồng;

- Tiền công lao động 300.000đồng/ngày x 30 ngày là 9.000.000đồng;

- Tiền công người nuôi bệnh 100.000đồng x 13 ngày là 1.300.000đồng.

* Bị đơn anh Đinh Văn L trình bày: Anh thừa nhận có sự việc xảy ra ngày 10/10/2024 như anh N trình bày, anh có dùng tay đánh anh N và gây thương tích cho anh N . Anh cũng xác định chỉ có một mình anh đánh anh N , không có ai khác đánh anh N . Tuy nhiên, anh cho rằng lý do anh đánh anh N là vì anh N rủ anh, thách thức anh đánh nhau, rồi hai bên cự cãi, lúc say rượu anh không giữ được bình tĩnh nên mới xảy ra xô xát, đánh nhau. Đối với yêu cầu khởi kiện của anh N thì anh chỉ đồng ý bồi thường tiền thuốc điều trị cho anh N gồm tiền điều trị tại Trung tâm y tế An Minh là 161.300đồng, tiền điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang là 4.877.149đồng, tổng cộng là 5.038.449đồng, làm tròn 5.038.000đồng. Còn các khoản tiền còn lại anh không đồng ý bồi thường.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn anh N thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu anh L bồi thường thiệt hại gồm tiền điều trị tại Trung tâm y tế An Minh 161.300đồng, tiền điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang 4.877.149đồng, tiền xe chuyển viện 2 lượt 1.200.000đồng, tiền công lao động 14 ngày x 300.000đồng = 4.200.000đồng, tiền công người nuôi bệnh 13 ngày x 100.000đồng = 1.300.000đồng, tổng cộng là 11.738.000đồng (làm tròn). Ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.

Bị đơn anh L chỉ đồng ý bồi thường tiền thuốc điều trị cho anh N , gồm tiền điều trị tại Trung tâm y tế An Minh là 161.300đồng, tiền điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang là 4.877.149đồng, tổng cộng làm tròn 5.038.000đồng. Còn các khoản tiền còn lại anh L không đồng ý bồi thường.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Về hướng giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn anh Đỗ Phú N khởi kiện yêu cầu anh Đinh Văn L bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Do đó theo Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 6 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật trong vụ án này là “tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe”.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn anh N thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: theo đơn khởi kiện ngày 27/02/2025 anh N yêu cầu bồi thường tiền xe chuyển viện 3 lượt x 600.000đồng = 1.800.000đồng, tiền công lao động của anh N 30 ngày x 300.000đồng = 9.000.000đồng; tại phiên tòa sơ thẩm, anh N chỉ yêu cầu tiền xe chuyển viện 2 lượt x 600.000đồng = 1.200.000đồng, tiền công lao động của anh N 14 ngày x 300.000đồng = 4.200.000đồng. Xét thấy, việc thay đổi này không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh N khởi kiện cho rằng anh bị anh L đánh bị thương, phải đi bệnh viện điều trị nên khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, tổng cộng số tiền là 11.738.000đồng; còn phía anh L thừa nhận hai bên có xô xát, có đánh anh N nhưng anh L chỉ đồng ý bồi thường tiền thuốc điều trị cho anh N với số tiền 5.038.000đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, qua các biên bản ghi lời khai của đương sự tại Công an xã Đ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A, lời khai của anh N , anh L , giấy ra viện ngày 23/10/2024 và lời trình bày của hai bên đương sự tại phiên tòa sơ thẩm có đủ cơ sở để kết luận vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 10/10/2024 tại nhà ông Lương Minh T1 ở ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp T, xã A, tỉnh An Giang), có xảy ra cự cãi, xô xát, đánh nhau giữa anh N và anh L . Anh L dùng tay đánh nhiều cái trúng vào vùng đầu, vùng mắt, mũi của anh N và gây thương tích cho anh N . Hậu quả làm anh N bị thương, phải đi bệnh viện khám và điều trị, được bệnh viện chẩn đoán chấn thương đầu, vỡ thành trước xoang trán (T); theo thông báo kết luận giám định số 159/TB-ĐT ngày 17/02/2025 của cơ quan cảnh sát điều tra thì thương tích của anh N chấn thương vùng trán, chấn thương phần mềm vùng đầu, mắt trái, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 9% (bút lục 03, 05, 46-55). Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn không đáng có mà hai bên đương sự đã xô xát, đánh nhau, có hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác nên phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu và thiệt hại thực tế của anh N cũng như ý kiến của bị đơn anh L , Hội đồng xét xử xét thấy các chi phí hợp lý và có chứng từ, biên lai bao gồm:

Tiền điều trị tại Trung tâm y tế An Minh là 161.300đồng, tiền điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang là 4.877.149đồng, tổng cộng là 5.038.449đồng, làm tròn 5.038.000đồng. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, anh L cũng đồng ý bồi thường khoản chi phí điều trị tại bệnh viện này.

Tiền xe chuyển viện từ An Minh đến bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang là 600.000đồng x 2 lượt = 1.200.000đồng. Đây là chi phí hợp lý, có biên nhận của người vận chuyển và cũng phù hợp với khoảng cách địa lý từ An Minh đến bệnh viện đa khoa tỉnh (bút lục 43).

Tiền công lao động người bệnh trong những ngày điều trị tại bệnh viện 14 ngày x 300.000đồng = 4.200.000đồng; tiền công người nuôi bệnh 13 ngày x 100.000đồng = 1.300.000đồng. Đây là thu nhập thực tế bị mất tiền công lao động người bệnh trong những ngày điều trị, tiền công người nuôi bệnh như lao động phổ thông tại địa phương (bút lục 42). Tại phiên tòa sơ thẩm anh L cũng xác nhận lao động phổ thông tại địa phương thu nhập từ 250.000đồng đến 300.000đồng/ngày. Việc anh N rút lại 16 ngày phục hồi sức khỏe và yêu cầu mức bồi thường tiền công người nuôi bệnh ở mức thấp nhất là có lợi cho anh L .

Tổng cộng số tiền là 11.738.000đồng. Đây là các chi phí hợp lý và có chứng từ, biên lai nên Hội đồng xét xử chấp nhận buộc anh L phải bồi thường cho anh N theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 7 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 09/6/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm còn phải bồi thường thiệt hại một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Tuy nhiên, do anh N không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự.

Từ những nhận định trên, sau khi thảo luận, Hội đồng xét xử nghị án nên chấp nhận ý kiến đề xuất của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh N buộc anh L phải bồi thường số tiền 11.738.000đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Anh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 11.738.000đồng x 5% = 587.000đồng (làm tròn).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5, khoản 6 Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 244, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 590, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 09/6/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đỗ Phú N .

Buộc anh Đinh Văn L phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Đỗ Phú N với tổng số tiền là 11.738.000đồng (mười một triệu bảy trăm ba mươi tám nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí sơ thẩm: Anh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 587.000đồng (năm trăm tám mươi bảy nghìn đồng).

3. Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ