- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu T tàng trữ pháo nổ - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Hữu T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2024/HSST Ngày 13 - 03 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Minh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thịnh
Ông Đường Ngọc Đại
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Phương Nhật Mai – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Lưu Hoàng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2024, tại Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS ngày 07/02/2024 đối với bị cáo:
Trần Hữu T, sinh ngày 26/01/1987, tại thị trấn H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở hiện tại: Tổ 8, phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu T và con bà Đỗ Thị T; có vợ là Phạm Thị Nh (đã ly hôn) và có 03 con nhỏ; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/12/2023 đến ngày 15/12/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại địa phương (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 07/12/2023, Trần Hữu T, sinh năm: 1987, hiện cư trú tại: tổ 8, phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc đang ngồi uống nước một mình tại quán vỉa hè trên đường Lê Quang Đạo thuộc phường Xuân Hoà, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc thì có 01 nam giới tự giới thiệu là V có bán pháo hoa nổ. Do T đang có ý định mua pháo hoa nổ để đốt vào dịp tết Nguyên đán 2024 nên đã hỏi V về số lượng và giá tiền. V cho biết đang có 05 khối pháo hoa nổ, loại 49 ống, bán với giá 1.000.000 đồng/khối. T đồng ý và hai bên hẹn nhau khoảng 19 giờ 30 phút ngày hôm sau đến gần quán thịt trâu Gió Đồng thuộc phường Xuân Hòa, thành phố Phúc Yên để giao dịch.
Đến khoảng 19 giờ 00 phút ngày 08/12/2023, T một mình bắt taxi của người không quen biết đến quán thịt trâu Gió Đồng thuộc phường Xuân Hoà, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, T đến gần quán thịt trâu Gió Đồng thì xuống xe taxi. T thấy V đang ngồi trên xe mô tô tại đầu ngõ gần quán thịt trâu Gió Đồng. V cùng T đến một gốc cây trên vỉa hè trong khu đô thị Hoài Nam và lấy ra 01 thùng cát tông trong đó có 05 khối pháo hoa nổ, loại 49 ống. T trả cho V 5.000.000 đồng tiền mua pháo như đã thỏa thuận. Sau khi mua bán xong, V cầm tiền và đi trước; T bê thùng cát tông có chứa số lượng pháo hoa nổ vừa mua và đi ra ngoài đường để bắt taxi về. Khi T đang bê thùng cát tông chứa pháo đi được khoảng 20m thì bị lực lượng Công an thành phố Phúc Yên kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ Toàn bộ vật chứng.
Tang vật thu giữ gồm: 01 thùng bìa cát tông bên trong chứa 05 khối hộp hình chữ nhật có đặc điểm giống nhau, bên ngoài mỗi khối hộp đều được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, trên giấy có in chữ nước ngoài, được niêm phong theo quy định của pháp luật, ký hiệu A.
Tại Kết luận giám định số 3321/KLGD của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: 05 (năm) khối hộp của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định đều là pháo, loại pháo nổ (pháo hoa nổ), có tổng khối lượng là 7,962kg (Bảy phảy chín sáu hai kilôgam) không kể hộp giấy catton và bao gói niêm phong. Cơ quan giám định hoàn lại 4,872 kg mẫu được niêm phong kín theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra T khai nhận Toàn bộ hành phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 20/CT- VKSPY ngày 24 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo T như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo T từ 06 đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi. Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phúc Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Hồi 19 giờ 20 phút ngày 08/12/2023, tại khu đô thị Hoài Nam thuộc địa phận phường Xuân Hoà, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tổ công tác Công an thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện, bắt quả tang Trần Hữu T có hành vi tàng trữ 05 hộp hình hộp đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), có tổng khối lượng là 7,962kg (Bảy phảy chín sáu hai kilôgam). T khai nhận 05 hộp hình hộp để trong thùng xốp là pháo hoa nổ được T mua về để sử dụng đốt trong dịp tết Nguyên đán 2024.
[3]. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Trần Hữu T về tội: “Tàng trữ hàng cấm”theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS quy định:
“1. Người nào tàng trữ, … hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây,…thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:”
c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;
[4]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần xử phạt nghiêm với mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử đã cân nhắc, xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hậu quả gây ra và nhân thân của bị cáo Trần Hữu T, thấy rằng: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ để cải tạo bị cáo thành người có ý thức chấp hành pháp luật và giúp bị cáo có điều kiện lao động, sản xuất để nuôi dưỡng, giáo dục 03 con nhỏ.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ”. Mặc dù bị cáo Trần Hữu T là công nhân có thu nhập ổn định nhưng hiện bị cáo đang phải thuê nhà trọ, bị cáo đã ly hôn và đang nuôi 03 con nhỏ nên điều kiện kinh tế khó khăn vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
[6]. Đối với đối tượng bán pháo cho T có tên là V, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh triệt để các thông tin do T khai báo nhưng chưa xác định được người bán pháo có địa chỉ cụ thể như thế nào nên chưa đủ căn cứ xử lý. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phúc Yên tiếp tục xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau nên Tòa án không xét.
[6.1]. Đối với người lái taxi đã chở T từ tổ 8, phường H đến phường Xuân Hòa: Đến nay CQĐT không làm rõ được nhân thân, danh tính địa chỉ nên Tòa án không xét.
[7]. Về vật chứng của vụ án: Đối với mẫu vật do Cơ quan giám định hoàn lại là 4,872 kg pháo hoa nổ cùng Toàn bộ bao gói cần tịch thu tiêu huỷ.
[8]. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Hữu T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Hữu T 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Hữu T cho Uỷ ban nhân dân phường Hùng Vương, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ đối với mẫu vật do Cơ quan giám định hoàn lại gồm 4,872 kg pháo hoa nổ cùng Toàn bộ bao gói (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng do Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên và Công an thành phố Phúc Yên lập ngày 30/01/2024).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Hữu T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Phúc Yên; - Cơ quan THADS thành phố Phúc Yên; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - UBND nơi b/c cư trú; - Bị cáo; - Lưu HS + THAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Hoàng Minh Tuấn |