- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Mạnh H, Nguyễn Thị T - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo c a các bị cáo Trần Mạnh H, Nguyễn Thị T và kháng cáo c a bị hại bà Đỗ Thị C; giữ nguyên ản án h nh sự sơ thẩm số 99 2023 HSST ngày 25 9 2023 c a Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; luật H nh sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2024/HSPT Ngày: 29/01/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Kim Liên
Các Thẩm phán:
ông Nguyễn Văn Tiến
ông Đặng Kim Nhân
- Thư ký phiên tòa: bà Dương Thị Tuyết Trinh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Chiến, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa trực tuyến xét xử phúc thẩm công khai vụ án h nh sự thụ l số 569 2023 TLPT-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 đối v i các bị cáo Trần Mạnh H, Nguyễn Thị T về tội L a đảo chiếm đoạt tài sản . Do c kháng cáo c a các bị cáo, bị hại đối v i ản án h nh sự sơ thẩm số 99 2023 HSST ngày 25 9 2023 c a Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
* Các bị cáo có kháng cáo:
1. Trần Mạnh H - sinh ngày 10 11 1974 tại tỉnh Ninh nh; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: tổ E, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: lái xe; tr nh độ học vấn: 12 12; dân tộc: kinh; gi i tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Mạnh T1 và bà Trần Thị H1; vợ: Triệu Thị D; c 02 con (l n sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2003); tiền án, tiền sự: không; bị cáo là đảng viên Đ1, đã đ nh chỉ sinh hoạt Đảng.
ị bắt, tạm giam ngày 11 7 2022. C mặt.
2. Nguyễn Thị T - sinh ngày 17 3 1970 tại Ninh nh; nơi thường trú: thôn F, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: làm nông; tr nh độ học vấn: 12 12; dân tộc: kinh; gi i tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Ngô Thị N; chồng: Nguyễn Tất T2, c 03 con (l n nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2005); tiền án, tiền sự: không.
ị cáo tại ngoại. C mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Trần Mạnh H: ông Đặng Ngọc , Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh G. C mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị T: ông Ngô Đức N1, Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh G. C mặt.
- Bị hại: bà Đỗ Thị C, sinh năm 1973. Trú tại: số D đường T, tổ dân phố E, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kom Tum. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau:
T ngày 13 07 2017 đến ngày 06 7 2020, Trần Mạnh H là nhân viên lái xe c a Trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh G. H không c khả năng xin việc cho người khác nhưng H thấy nhiều người c nhu cầu xin việc làm cho người thân nên H đã nảy sinh định l a đảo chiếm đoạt tài sản c a các cá nhân trên địa bàn tỉnh Gia Lai và tỉnh Kon Tum bằng cách: H đưa ra thông tin gian dối v i các cá nhân là H c quen biết v i nhiều lãnh đạo tại Sở Nội vụ tỉnh G, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh G, Giám đốc Cảng hàng không Đ2 và H c quen biết v i người tên H2 là cháu c a ông Trần Đại Q làm việc tại ộ C2 nên c khả năng xin tuyển biên chế giáo viên tại tỉnh Gia Lai, xin vào biên chế trong lực lượng Công an nhân dân và ngành nghề khác; nếu không xin được việc H sẽ hoàn trả lại đ số tiền đã nhận, làm cho các cá nhân tin tưởng là thật đã đưa tiền cho H để nhờ xin việc cho người thân c a m nh v i tổng số tiền là 3.300.000.000đồng. Sau đ , H chiếm đoạt sử dụng tiêu xài cá nhân.
Ngoài ra, t năm 2017 đến năm 2018, H cùng v i Nguyễn Thị T đã đưa ra thông tin gian dối v i 03 cá nhân tại tỉnh Gia Lai là H làm trong ngành giáo dục, c khả năng xin việc cho nhiều người vào làm việc trong các cơ quan Nhà nư c, nếu không xin được việc sẽ hoàn trả lại số tiền đã nhận, làm cho các cá nhân tin tưởng là thật giao cho T số tiền là 460.000.000đồng để nhờ xin việc và bị chiếm đoạt.
V i th đoạn trên, H đã chiếm đoạt tiền c a vợ chồng ông Trần Văn C1 và bà Đỗ Thị C số tiền số tiền 400.000.000đồng (đã trả 270.000.000đồng), chiếm đoạt c a ông Trần Quốc H3 số tiền 200.000.000đồng (đã trả tổng cộng 160.000.000đồng), ông Thái Đ nh Đ và bà Hoàng Thị Q1 số tiền 200.000.000đồng (đã trả 140.000.000 đồng), ông Tống Xuân Q2 số tiền 300.000.000đồng (đã trả 265.000.000đồng), bà Nguyễn Thị H4 số tiền 300.000.000đồng (đã trả 220.000.000đồng), ông Ngô Mạnh H5 số tiền 400.000.000đồng (đã trả 30.000.000đồng), bà Võ Thị T3 số tiền 450.000.000đồng (đã trả 250.000.000đồng), ông Phạm Văn L1 số tiền 250.000.000đồng, ông Trịnh Xuân V số tiền 250.000.000đồng, ông Nguyễn Mạnh T4 số tiền 550.000.000đồng. T đã chiếm đoạt c a bà ùi Thị L2 số tiền 200.000.000đồng, bà Phạm Thị S số tiền 230.000.000đồng, bà Mai Thị T5 số tiền 30.000.000đồng. T đưa cho H 460.000.000đồng và được H đưa lại 40.000.000đồng.
Khi biết T và H không xin được việc như cam kết, bà L2, bà S và bà T5 đã nhiều lần yêu cầu T trả lại tiền. T đã nhiều lần đến nhà H yêu cầu H trả lại số tiền nhận. H đã đưa cho T nhiều lần v i tổng số tiền là 430.000.000đồng. T đã trả lại cho các bị hại.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm 99/2023/HSST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 c a ộ luật H nh sự; xử phạt Trần Mạnh H 14 (mười bốn) năm tù về tội L a đảo chiếm đoạt tài sản . Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính t ngày 11 7 2022.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 54, Điều 17, Điều 58 c a ộ luật H nh sự; xử phạt Nguyễn Thị T 04 (bốn) năm tù về tội L a đảo chiếm đoạt tài sản . Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính t ngày bắt thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 48 c a ộ luật H nh sự, Điều 584, 585, 586, 589 c a ộ luật Dân sự, xử: buộc bị cáo Trần Mạnh H phải trả cho bà Đỗ Thị C số tiền 130.000.000đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự đối v i các bị hại khác, trách nhiệm chậm thi hành án, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định c a pháp luật.
Ngày 30 9 2023, bị cáo Trần Mạnh H kháng cáo xin giảm nhẹ h nh phạt v cho rằng án sơ thẩm xử nặng.
Ngày 10 10 2023, bị cáo Nguyễn Thị T kháng cáo xin giảm nhẹ h nh phạt và xin được hưởng án treo.
Ngày 06 10 2023, bị hại bà Đỗ Thị C kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm buộc bị cáo H và vợ là bà Triệu Thị D trả cho bà số tiền 130.000.000đồng. Ngày 09 10 2023, bà C kháng cáo bổ sung đề nghị Toà án buộc bà Triệu Thị D trả cho bà số tiền 130.000.000đồng.
Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo Trần Mạnh H và Nguyễn Thị Tuyết g nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng mức án 14 năm tù đối v i bị cáo Trần Mạnh Hiếu và mức án 04 năm tù đối v i bị cáo Nguyễn Thị T là phù hợp, không nặng. Đối v i kháng cáo c a bị hại bà Đỗ Thị C th thấy rằng: bà Triệu Thị D không phải là người phạm tội, không đồng phạm v i bị cáo H nên không c trách nhiệm bồi thường cho bị hại. Tại phiên toà phúc thẩm, không c t nh tiết giảm nhẹ nào m i. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo c a các bị cáo H, T và bị hại bà Đỗ Thị C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư Đặng Ngọc bào chữa cho bị cáo bào chữa cho bị cáo Trần Mạnh H đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo H v mức án 14 năm tù là nặng, bị cáo c nhiều t nh tiết giảm nhẹ.
Luật sư Ngô Đức N1 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị T đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ h nh phạt và cho bị cáo T được hưởng án treo v bị cáo đã khắc phục hết phần bồi thường dân sự, số tiền hưởng lợi không nhiều.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về th tục tố tụng: tại phiên toà phúc thẩm, bị hại bà Đỗ Thị C vắng mặt không c l do. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 351 c a ộ luật tố tụng H nh sự. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử.
Quá tr nh điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo Trần Mạnh H, Nguyễn Thị T khai nhận hành vi phạm tội c a m nh. Lời khai c a các bị cáo phù hợp v i lời khai c a bị hại, người làm chứng và phù hợp v i các tài liệu, chứng cứ khác c trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử c đ cơ sở kết luận: t năm 2017 đến năm 2020, biết nhiều người c nhu cầu xin việc làm, xin đi học cho người thân nên H đã đưa ra thông tin gian dối là H c quen biết v i Lãnh đạo Sở Nội vụ tỉnh G, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh G, Giám đốc Cảng hàng không Đ2, c khả năng xin việc, làm cho các bị hại tin tưởng lời H n i là thật nên đã đưa tiền cho H. H đã chiếm đoạt tiền c a ông Trần Văn C1 và bà Đỗ Thị C, ông Trần Quốc H3, ông Thái Đ nh Đ và bà Hoàng Thị Q1, ông Tống Xuân Q2, bà Nguyễn Thị H4, ông Ngô Mạnh H5, bà Võ Thị T3, ông Phạm Văn L1, ông Trịnh Xuân V và ông Nguyễn Mạnh T4. Cũng trong thời gian này, T nhờ H xin việc cho con gái m nh là Nguyễn Thị Quỳnh N2 nhưng không được. H n i v i T biết ai c nhu cầu xin việc th gi i thiệu cho H, H sẽ cho T tiền hoa hồng. T đã đồng và đưa ra thông tin gian dối là H đang làm trong ngành giáo dục, c quen biết v i nhiều lãnh đạo tại các Sở, ngành nên c khả năng xin việc làm. V i th đoạn trên, H và T đã chiếm đoạt tiền c a bà ùi Thị L2, bà Phạm Thị S, bà Mai Thị T5. Xét Toà án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo H, T về tội L a đảo chiếm đoạt tài sản là c cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ h nh phạt c a các bị cáo Trần Mạnh H, Nguyễn Thị T, Hội đồng xét xử thấy: trong thời gian dài, các bị cáo đã nhiều lần dùng th đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản c a các bị hại. ị cáo H chiếm đoạt tổng cộng 3.760.000.000đồng nên phạm vào điểm a khoản 4 Điều 174 c a ộ luật H nh sự, bị cáo T đồng phạm v i bị cáo H chiếm đoạt 460.000.000đồng nên phạm vào điểm a khoản 3 Điều 174 c a ộ luật H nh sự. Hành vi c a bị cáo H là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi c a bị cáo T là rất nghiêm trọng; đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp c a công dân được pháp luật bảo vệ. Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội c a các bị cáo, đã xem xét các t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự quy định tại Điều 51, Điều 52 c a ộ luật H nh sự, xử phạt bị cáo H 14 năm tù là không nặng; riêng bị cáo T được áp dụng thêm Điều 54 c a ộ luật H nh sự, xử phạt 04 năm tù là phù hợp nên không thể giảm án và mức án này th không thể cho bị cáo hưởng án treo được. V vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo c a các bị cáo H, T cũng như lời bào chữa c a các Luật sư; chấp nhận đề nghị c a đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, giữ nguyên h nh phạt c a bản án sơ thẩm.
Đối v i nội dung kháng cáo c a bị hại bà Đỗ Thị C đề nghị Toà án cấp phúc thẩm buộc bà Triệu Thị D - là vợ c a bị cáo H c trách nhiệm bồi thường số tiền 130.000.000đồng cho bà, Hội đồng xét xử thấy: bà D không c hành vi liên quan đến hành vi phạm tội c a bị cáo H nên không c trách nhiệm phải bồi thường. V vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo c a bà Đỗ Thị C.
Do nội dung kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Trần Mạnh H, Nguyễn Thị T phải chịu án phí h nh sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 23 c a Nghị quyết số 326 2016 U TVQH14 ngày 30 12 2016 c a Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các quyết định khác còn lại c a bản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị nên không xét.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 c a ộ luật Tố tụng H nh sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo c a các bị cáo Trần Mạnh H, Nguyễn Thị T và kháng cáo c a bị hại bà Đỗ Thị C; giữ nguyên ản án h nh sự sơ thẩm số 99 2023 HSST ngày 25 9 2023 c a Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 c a ộ luật H nh sự; xử phạt Trần Mạnh H 14 (mười bốn) năm tù về tội L a đảo chiếm đoạt tài sản . Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính t ngày 11 7 2022.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 54, Điều 17, Điều 58 c a ộ luật H nh sự; xử phạt Nguyễn Thị T 04 (bốn) năm tù về tội L a đảo chiếm đoạt tài sản . Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính t ngày bắt thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng khoản 1 Điều 48 c a ộ luật H nh sự, Điều 584, 585, 586, 589 c a ộ luật Dân sự, xử: buộc bị cáo Trần Mạnh H phải trả cho bà Đỗ Thị C số tiền 130.000.000đồng (một trăm ba mươi triệu đồng).
Kể t ngày c đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi c a số tiền chậm thi hành án theo Điều 357 c a ộ luật Dân sự quy định về trách nhiệm chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền.
3. Về án phí: các bị cáo Trần Mạnh H, Nguyễn Thị T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí h nh sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 c a Luật Thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự c quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 c a Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 c a Luật Thi hành án dân sự.
4. Các quyết định khác còn lại c a bản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị đã c hiệu lực pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. ản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Gia Lai; - Cơ quan CSĐT-Công an tỉnh Gia Lai; - Phòng HSNV-Công an tỉnh Gia Lai; - Cơ quan CSTHAHS-CA tỉnh Gia Lai; - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai; - Cục THADS tỉnh Gia Lai; - Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai; - ị cáo, bị hại, Luật sư; - Lưu HSVA, PHCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã k ) Trần Thị Kim Liên |