- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị C ly hôn với Nguyễn Văn R"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án năm 2016.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13-3-2024 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đậu Thị Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thảo;
Ông Nguyễn Thanh Cần.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuyến, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 23/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 16/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1970; nơi cư trú: Tổ A, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1968; nơi cư trú: Tổ A, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt lần thứ 2 không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 12 năm 2023, quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị C trình bày:
Bà Nguyễn Thị C và ông Nguyễn Văn R sau thời gian tìm hiểu thì tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới vào năm 1992. Tuy nhiên đến năm 2002 mới tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T (Nay là phường P, thành phố T), tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 43, cấp ngày 19/11/2002.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với nhau hạnh phúc được khoảng 12 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông R có mỗi quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Thời điểm này bà C vì suy nghĩ đến các con còn nhỏ nên đã cố gắng nhường nhịn và bỏ qua để cùng nhau chung sống và chăm sóc con cái. Hai vợ chồng mặc dù sống với nhau nhưng không ai quan tâm đến ai, mỗi người có một cuộc sống riêng. Thấy cuộc sống vợ chồng như người dưng với nhau, bà C đã về nhà mẹ đẻ để sống hơn 02 tháng nay. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân với nhau, khi biết bà C nộp đơn lên Toà án yêu cầu giải quyết ly hôn thì ông R cũng không quan tâm, không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Bà C xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với ông R.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Lục P, sinh năm 1994; Nguyễn Minh T, sinh năm 2000; Nguyễn Cao T, sinh năm 2003. Hiện nay con chung đã trưởng thành, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa:
- Vị đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được công bố tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc “Ly hôn”.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Nguyễn Văn R đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị C và ông Nguyễn Văn R kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã P, huyện T (Nay là phường P, thành phố T), tỉnh Bình Dương vào ngày 19/11/2002, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 43 nên hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu của nguyên đơn:
Theo bà C trình bày thì sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 12 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng sống chung với nhau nhưng không ai quan tâm đến ai, mỗi người có một cuộc sống riêng, thờ ơ với nhau, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Hai vợ chồng hiện đã sống ly thân.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập nhưng ông R không đến Tòa án làm việc, tham gia các buổi hòa giải, tham gia phiên tòa để Tòa án hòa giải vợ chồng đoàn tụ, điều này thể hiện ông R không có thiện chí xây dựng gia đình hạnh phúc. Hơn nữa, từ khi ly thân, ông R không tìm cách hòa giải mâu thuẫn vợ chồng, điều đó cho thấy quan hệ hôn nhân giữa bà C và ông R không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc, bền vững, hiện nay mỗi người có cuộc sống riêng, mục đích hôn nhân không đạt được.
Từ những phân tích trên, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C về việc ly hôn với ông R.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà C và ông R có 03 con chung là Nguyễn Lục P, sinh năm 1994; Nguyễn Minh T, sinh năm 2000; Nguyễn Cao T, sinh năm 2003. Hiện nay con chung đã trưởng thành, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp nên chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án năm 2016.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C về việc “Ly hôn” với ông Nguyễn Văn R.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị C được ly hôn với ông Nguyễn Văn R.
- Về con chung: Con chung Nguyễn Lục P, sinh năm 1994; Nguyễn Minh T, sinh năm 2000; Nguyễn Cao T, sinh năm 2003 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0001882 ngày 18/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Tân Uyên; - THADS thành phố Tân Uyên; - Đương sự; - UBND phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; - Lưu HS, AV. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đậu Thị Loan |