vanban.org

Bản án 22/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

sự năm 2015; các điều 56, 57, 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

1- Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Đặng Thị H được ly hôn anh Dương Văn 2- Về con chung: Cháu Dương Văn H1, sinh ngày 20/6/2006 đã trưởng thành, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xét xử vụ án ly hôn H - Đ"
  • Tòa quyết gì? sự năm 2015; các điều 56, 57, 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST
Ngày 21/6/2024
V/v xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị H và bà Dương Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Võ

Nhai, tỉnh Thái Nguyên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham

gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Võ

Nhai, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024 về việc xin ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1986, có mặt.

Dân tộc: Dao; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Hộ khẩu TT: Xóm PT, xã PG, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi ở hiện nay: Xóm TM, xã LH, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên.

Bị đơn: Anh Dương Văn Đ, sinh năm 1986, vắng mặt.

Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng.

Địa chỉ: Xóm PT, xã PG, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn chị Đặng Thị H trình bày: Chị

kết hôn với anh Đ năm 2005 đăng ký kết hôn tại UBND xã PG, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Dương Văn H1, sinh ngày 20/6/2006. Tài sản chung và nợ chung không có.

Về lý do xin ly hôn chị H cho rằng: Sau khi cưới vợ chồng chị ở riêng, trong

thời gian chung sống nhiều năm vợ chồng không hạnh phúc, anh Đ đi làm không mang tiền về cho chị để phụ giúp gia đình nuôi con, phát triển kinh tế gia đình. Nhưng bản thân chị là phụ nữ vì con cái và gia đình vẫn cố gắng vun vén, chịu đựng để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh Đ không thay đổi. Vợ chồng chị đã ly thân từ năm 2012 đến nay, chị và con đã về bên ngoại sống từ tháng 10/2021. Nay chị thấy không thể tiếp tục chung sống với anh Đ nữa, vợ chồng sống với nhau không có hạnh phúc, không thể hàn gắn tình cảm, nên chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh Đ.

Về con chung chị đề nghị được nuôi con chung theo nguyện vọng của con

không yêu cầu anh Đ đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Dương Văn Đ: Sau khi nhận được đơn khởi kiện của chị H quá trình

giải quyết vụ án Toà án nhân dân huyện Võ Nhai đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Đ không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Ngày 07/5/2024, Toà án nhân dân huyện Võ Nhai đã tiến hành xác minh tại UBND xã PG, Công an xã PG, ban xóm PT và gia đình anh Đ xác định được các giấy triệu tập của Toà án đã giao nhận hợp lệ cho anh Đ, gia đình anh Đ nhận và đã thông báo cho anh Đ biết. Tại thời điểm xác minh anh Đ vẫn có hộ khẩu thường trú tại địa phương chưa cắt chuyển hộ khẩu, tạm vắng đi đâu. Do anh Đ không có mặt tại Tòa án nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử công khai.

Ý kiến của con trên 7 tuổi: Trong đơn đề nghị ngày 10/4/2024, cháu Dương Văn

H1 có nguyện vọng ở với chị Đặng Thị H.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà:

- Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư

ký và những người tham gia tố tụng, Toà án thụ lý vụ án và tiến hành các thủ tục tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà phù hợp với các quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về nội dung: Xét thấy chị H và anh Đ kết hôn năm 2017 tại UBND xã PG,

huyện VN, tỉnh Thái Nguyên nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 57, 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị H cho chị H được ly hôn anh Dương Văn Đ. Về con chung: Cháu Dương Văn H1, sinh ngày 20/6/2006 đã trưởng thành không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết. Án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ

tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Đây là vụ án xin ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết theo quy

định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án bị đơn là anh Dương Văn Đ cư trú tại Xóm PT, xã PG, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên. Vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

. Về sự vắng mặt của bị đơn: Ngày 04/3/2024 Tòa án nhân dân huyện Võ

Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của chị H về việc xin ly hôn đối với anh Đ. Quá trình giải quyết vụ án anh Đ không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Ngày 07/5/2024, Toà án nhân dân huyện Võ Nhai đã tiến hành xác minh tại UBND xã PG, Công an xã PG, Ban xóm PT và gia đình anh Đ xác định được các giấy triệu tập của Toà án đã giao nhận hợp lệ cho anh Đ, gia đình anh Đ nhận và đã thông báo cho anh Đ biết. Tại thời điểm xác minh anh Đ vẫn có hộ khẩu thường trú tại địa phương chưa cắt chuyển hộ khẩu, tạm vắng đi đâu. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

. Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Đặng Thị H và anh Dương

Văn Đ là cuộc hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp. Bởi lẽ trước khi kết hôn hai bên được tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PG, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên. Trong thời gian chung sống nhiều năm vợ chồng không hạnh phúc, anh Đ đi làm không đóng góp tiền phụ giúp chị H nuôi con, phát triển kinh tế gia đình. Vợ chồng chị đã ly thân từ năm 2012 đến nay, từ tháng 10/2021 chị và con đã chuyển về bên ngoại sống. Đến nay anh Đ vẫn không thay đổi vợ chồng sống với nhau rất căng thẳng ảnh hưởng đến tinh thần chị H và con, chị H xác định vợ chồng không thể tiếp tục sống với nhau nữa nên chị làm đơn xin ly hôn anh Đ. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh Đ không còn, tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, chấp nhận yêu cầu của chị H xin được ly hôn anh Đ.

. Về con chung: Quá trình chung sống, chị H và anh Đ có 01 con chung là

Dương Văn H1, sinh ngày 20/6/2006 hiện nay đang ở với chị H. Thời điểm Tòa án thụ lý vụ án cháu H1 dưới 18 tuổi, nhưng tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử xác định cháu H1 đủ 18 tuổi và đã trưởng thành, do vậy Hội đồng xét xử xét không xem xét giải quyết.

. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, Hội đồng xét xử không xem xét

giải quyết.

. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp

luật.

. Xét ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

về việc giải quyết vụ án là phù hợp.

Bởi lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 273 Bộ luật Tố tụng Dân

sự năm 2015; các điều 56, 57, 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1- Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Đặng Thị H được ly hôn anh Dương Văn

Đ.

2- Về con chung: Cháu Dương Văn H1, sinh ngày 20/6/2006 đã trưởng thành,

Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, Hội đồng xét xử không xem

xét giải quyết.

4- Về án phí: Buộc chị Đặng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly

hôn, được trừ vào số tiền chị đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Võ Nhai theo biên lai số 0006547 ngày 04/3/2024.

5- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày

kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ