vanban.org

Bản án 22/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị U.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị U được ly hôn anh Trần Văn H. Về con chung: Giao anh Trần Văn H được trực tiếp nuôi dưỡng 04 (Bốn) con chung gồm: Trần Anh D, sinh ngày 28/9/2009; Trần Quốc K, sinh ngày 25/12/2011; Trần Đăng K1, sinh ngày 10/12/2015 và Trần Anh K2, sinh ngày 07/7/2018. Chị Nguyễn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chi U với anh H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị U.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN NAM
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28 - 6 - 2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn;
tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Văn Lợi và ông Thiên Anh K2

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam tham gia phiên toà: ông Lê Muộn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn; Tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị U - sinh năm 1993 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ: thôn SH2, xã PD, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.

2. Bị đơn: anh Trần Văn H - sinh năm 1992 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ: thôn SH2, xã PD, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị U trình bày:

Chị và anh Trần Văn H sống chung đời sống vợ chồng từ năm 2008, tự nguyện tìm hiểu nhau, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn số 55/2013 ngày 23/5/2013 tại UBND xã PD. Chị và anh H có 04 (Một) con chung tên là: Trần Anh D, sinh ngày 28/9/2009; Trần Quốc K, sinh ngày 25/12/2011; Trần Đăng K1, sinh ngày 10/12/2015 và Trần Anh K2, sinh ngày 07/7/2018, đang sống với anh H. Thời gian đầu sống hạnh phúc, đến năm 2018 thì mâu thuẫn vợ chồng. Lý do mâu thuẫn: Bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp về tình cảm vợ chồng, bất đồng quan điểm về kinh tế gia đình, mạnh ai nấy sống từ năm 2021 đến nay, chị đã bỏ đi khỏi nhà từ năm 2021 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu ly hôn anh Trần Văn H.

Về con chung: Chị đồng ý giao cho anh Trần Văn H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Anh D, sinh ngày 28/9/2009; Trần Quốc K, sinh ngày 25/12/2011; Trần Đăng K1, sinh ngày 10/12/2015 và Trần Anh K2, sinh ngày 07/7/2018. Chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Văn H trình bày: Anh xác nhận về quan hệ hôn nhân giữa anh và chị U; về con chung; quá trình chung sống vợ chồng và mâu thuẫn vợ chồng như chị U trình bày là đúng như chị U trình bày. Anh xác nhận hiện nay anh và chị U không còn sống chung từ năm 2021 đến nay. Chị U đã bỏ đi theo người khác để anh một mình nuôi các con nên anh cũng không còn tình cảm vợ chồng với chị U. Vì vậy, anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị U. Về con chung anh đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng 04 (Bốn) con chung gồm: Trần Anh D, sinh ngày 28/9/2009; Trần Quốc K, sinh ngày 25/12/2011; Trần Đăng K1, sinh ngày 10/12/2015 và Trần Anh K2, sinh ngày 07/7/2018 và không yêu cầu chị U cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Nguyễn Thị U và anh Trần Văn H đều vắng mặt, đều đã có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, Bị đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị U. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc nguyên đơn chị U phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị U khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn anh Trần Văn H và đồng ý để anh H được trực tiếp nuôi con chung, đây là vụ án về Hôn nhân và Gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Anh Trần Văn H hiện đang cư trú tại thôn Sơn Hải 02, xã PD, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam.

. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị U và bị đơn anh Trần Văn H đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Văn H và chị Nguyễn Thị U.

. Về nội dung vụ án:

. Căn cứ Trích lục kết hôn số 44/TLKH-BS ngày 21/02/2024 của UBND xã PD (BL 07), thể hiện: chị Nguyễn Thị U và anh Trần Văn H có đăng ký kết hôn số 55/2013 ngày 23/5/2013 tại UBND xã PD. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của chị U và anh H là hôn nhân hợp pháp, thời điểm kết hôn vào ngày 23/5/2013, có đủ các điều kiện kết hôn quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

. Quá trình chung sống vợ chồng, do chị U và anh H đều xác nhận vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến mâu thuẫn; vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không còn sống chung từ năm 2021 đến nay nên tình cảm vợ chồng không còn. Tại Biên bản xác minh ngày 07/02/2024 tại UBND xã PD ngày 01/3/2024 (BL 36) đã thể hiện: Anh Trần Văn H và chị Nguyễn Thị U là vợ chồng có 04 (Bốn) con chung gồm: Trần Anh D, sinh ngày 28/9/2009; Trần Quốc K, sinh ngày 25/12/2011; Trần Đăng K1, sinh ngày 10/12/2015 và Trần Anh K2, sinh ngày 07/7/2018. Quá trình giải quyết vụ án, chị U yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án; anh H đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị U và đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng anh không muốn gặp chị U để hòa giải, thỏa thuận gì, điều này chứng tỏ các bên không có thiện chí hòa giải hàn gắn nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị U và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị U yêu cầu ly hôn anh H là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Chị U đồng ý giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng 04 (Bốn) con chung tên là: Trần Anh D, sinh ngày 28/9/2009; Trần Quốc K, sinh ngày 25/12/2011; Trần Đăng K1, sinh ngày 10/12/2015 và Trần Anh K2, sinh ngày 07/7/2018, các con đang sống chung với anh H. Anh H đồng ý được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung trong vụ án này. Các con chung đang sống với anh H nên việc chăm sóc, giáo dục con của anh H sẽ tốt hơn cho sự phát triển bình thường của các con và phù hợp nguyện vọng của các con. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy nên cần giao 04 (Bốn) con chung tên là: Trần Anh D, sinh ngày 28/9/2009; Trần Quốc K, sinh ngày 25/12/2011; Trần Đăng K1, sinh ngày 10/12/2015 và Trần Anh K2, sinh ngày 07/7/2018 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp nguyện vọng của các con và ý kiến của chị U và anh H. Do anh H không yêu cầu chị U cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến.

. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên chấp nhận.

. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nguyên đơn chị U phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự trong vụ án hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Các điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị U.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị U được ly hôn anh Trần Văn H.

2. Về con chung: Giao anh Trần Văn H được trực tiếp nuôi dưỡng 04 (Bốn) con chung gồm: Trần Anh D, sinh ngày 28/9/2009; Trần Quốc K, sinh ngày 25/12/2011; Trần Đăng K1, sinh ngày 10/12/2015 và Trần Anh K2, sinh ngày 07/7/2018. Chị Nguyễn Thị U không phải cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: chị Nguyễn Thị U phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị U đã nộp theo Biên lai thu số 0002293 ngày 23/02/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Chị U đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tống đạt được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ