vanban.org

Bản án 22/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị L và anh Bùi Văn C.

Về quan hệ con chung: Giao các con chung là các cháu Bùi Hoàng L1, sinh ngày 10/8/2009 và Bùi Hoàng Yến N, sinh ngày 17/11/2014 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 8 năm 2024 cho đến khi các cháu L1, N đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HOÀNG THỊ L - BÙI VĂN C "LY HÔN""
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị L và anh Bùi Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 22/2024/HNGĐ-ST
Ngày 21/8/2024
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tươi.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Tuấn.

2. Bà Đỗ Thị Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Loan - Thẩm tra viên - Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Minh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt; có đơn xin vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Bùi Văn C, sinh năm 1987; ĐKNKTT: Tổ dân phố H, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; hiện đang chấp hành án tại phân trai số 1, Trại giam N1, địa chỉ: Thôn D, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt; có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày:

Chị và anh Bùi Văn C trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 01/9/2008 tại UBND xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng hoà thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh C mải chơi không quan tâm đến gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, bất hoà, thậm chí xảy ra xô xát đánh chửi nhau. Vợ chồng chị chính thức sống ly thân từ cuối năm 2020 khi anh C đi chấp hành án phạt tù. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị làm đơn xin ly hôn anh C.

Quá trình giải quyết vụ án, tại Biên bản lấy lời khai ngày 24/7/2024 bị đơn anh Bùi Văn C cũng trình bày như chị L về điều kiện, thủ tục đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng và thời điểm vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2020 đến nay. Nay chị L xin ly hôn, anh đồng ý ly hôn. Về con chung của vợ chồng: Chị L và anh C đều xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu: Bùi Hoàng L1, sinh ngày 10/8/2009 và Bùi Hoàng Yến N, sinh ngày 17/11/2014. Khi ly hôn chị L xin trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung. Quan điểm của anh C nhất trí để chị L nuôi 02 con chung và anh không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công sức, công nợ: Chị L, anh C cùng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L; áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 BLTTDS; áp dụng Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị L và anh Bùi Văn C. Giao cháu Bùi Hoàng L1, sinh ngày 10/8/2009 và cháu Bùi Hoàng Yến N, sinh ngày 17/11/2014 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; anh Bùi Văn C không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị L. Anh C được quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Hoàng Thị L phải nộp 300.000đ án phí LHST. Chị L đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí LHST tại Biên lai thu số 0001130 ngày 17/6/2024, chị L được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục THA dân sự thị xã D.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên phát biểu quan điểm, sau khi thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt chị Hoàng Thị L và anh Bùi Văn C, tuy nhiên chị L, anh C có đơn xin giải quyết vắng mặt; HĐXX căn cứ các điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa. [2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L và anh Bùi Văn C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và được đăng ký kết hôn vào ngày 01/9/2008 tại UBND xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo hộ.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn là thực tế các bên đã thừa nhận. Nguyên nhân là do trong cuộc sống vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm với nhau, từ đó dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân nhau từ khoảng cuối năm 2020 khi anh C đi chấp hành án phạt tù. Nay chị L xin ly hôn và anh C cũng đồng ý. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị L xử cho chị được ly hôn anh C.

Về quan hệ con chung: Xét về điều kiện thực tế, nhận thấy hiện tại anh C đang phải chấp hành án phạt tù nên không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cháu Bùi Hoàng L1, cháu Bùi Hoàng Yến N đều có nguyện vọng ở với chị L, vì vậy cần giao hai cháu Bùi Hoàng L1, sinh ngày 10/8/2009 và Bùi Hoàng Yến N, sinh ngày 17/11/2014 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Sau này anh C chấp hành hình phạt tù trở về muốn thay đổi việc nuôi con thì anh C có quyền khởi kiện vụ việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị L không yêu cầu nên anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ, công sức của vợ chồng: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

- Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị L và anh Bùi Văn C.

2. Về quan hệ con chung: Giao các con chung là các cháu Bùi Hoàng L1, sinh ngày 10/8/2009 và Bùi Hoàng Yến N, sinh ngày 17/11/2014 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 8 năm 2024 cho đến khi các cháu L1, N đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Các bên được quyền thăm hỏi, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Chị L và các thành viên trong gia đình không được cản trở anh C trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Chị L và anh C có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Hoàng Thị L phải chịu 300.000 đồng. Chị L được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0001130 ngày 17/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

Báo cho chị Hoàng Thị L, anh Bùi Văn C vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ