- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Tiến Đ đối với bà Lê Thị Thùy D về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06-5-2024 Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh
Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hạnh
Ông Trần Văn Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảo Anh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Nguyệt, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 05 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 390/2023/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 23 tháng 04 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trương Tiến Đ, sinh năm 1986 (vắng mặt- đã có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 12, Ấp 6, xã X, huyện X, tỉnh Đ.
Bị đơn: Bà Lê Thị Thùy D, sinh năm 1983 (vắng mặt- đã có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Ông và bà Lê Thị Thùy D yêu thương và tiến tới hôn nhân vào năm 2010 trên cơ sở tự nguyện và đã đăng ký kết hôn vào ngày 09/06/2010 tại UBND xã X, huyện X, tỉnh Đ.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Được một thời gian thì hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm sống. Đến khoảng tháng 2/2015, vợ chồng ông quyết định ly thân mỗi người ở mỗi nơi cho đến nay.
Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Lê Thị Thùy D.
- Về con chung: Ông và bà D có 01 người con chung là cháu Trương Tiến P, sinh ngày 13/2/2011. Ông có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung đến khi con trưởng thành, không yêu cầu bà D phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về chia tài sản chung, nợ chung: Ông và bà D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn trình bày:
Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bà D vẫn không đến Tòa án làm việc. Tuy nhiên, bà D đã có bản tự khai nộp cho Tòa, có nội dung: Ông Đ và bà yêu thương và tiến tới hôn nhân vào năm 2010 trên cơ sở tự nguyện và đã đăng ký kết hôn vào ngày 09/06/2010 tại UBND xã X, huyện X, tỉnh Đ.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Được một thời gian thì hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm sống. Đến khoảng tháng 2/2015. vợ chồng bà quyết định ly thân mỗi người ở mỗi nơi cho đến nay.
Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà đồng ý ly hôn với ông Trương Tiến Đ.
Về con chung: Ông Đ và bà có 01 người con chung là cháu Trương Tiến P, sinh ngày 13/02/2011. Bà đồng ý giao con chung cho ông Trương Tiến Đ được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc con chung cho đến khi con trưởng thành. Bà không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông Đ và bà D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết trong vụ án:
Về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý vụ án đúng theo thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật về nội dung tranh chấp, thu thập chứng cứ đầy đủ và xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng nguyên tắc xét xử trong phiên tòa sơ thẩm.
Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Trương Tiến Đ, bà Lê Thị Thùy D vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt ông Đ, bà D theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự là đúng quy định.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông Đ và bà D ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn ông Trương Tiến Đ. Về con chung: Ghi nhận ý kiến của ông Đ và bà D, giao con chung Trương Tiến P cho ông Trương Tiến Đ được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con trưởng thành. Bà Lê Thị Thùy D không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, Tòa án nhận định như sau:
Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung; nơi cư trú hiện nay của bà Lê Thị Thùy D là tại xã C, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Ông Trương Tiến Đ, bà Lê Thị Thùy D vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt ông Đ, bà D theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
2 Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Đ và bà D tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đ theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 124, quyển số 01/2010 do UBND xã X cấp ngày 09/6/2010. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông Đ và bà D là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, ông Đ và bà D phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, thường xuyên cải vã nhau. Từ tháng 2/2015 cho đến nay, ông Đ và bà D đã ly thân, không còn sống chung với nhau nữa.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa ông Trương Tiến Đ và ông Lê Thị Thùy D ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Do đó, áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn ông Trương Tiến Đ.
2.2 Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Ông Đ và bà D có 01 người con chung là cháu Trương Tiến P, sinh ngày 13/2/2011. Ông Trương Tiến Đ có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến khi con trưởng thành, không yêu cầu bà D phải cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, bà D cũng đồng ý với ý kiến trên của ông Đ, giao con chung cho ông Đ được trực tiếp nuôi dưỡng.
Xét thấy: Ghi nhận ý kiến của các đương sự, hiện nay ông Đ có việc làm, thu nhập và có chỗ ở ổn định. Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung là cháu Trương Tiến P, sinh ngày 27/01/2019 cho ông Trương Tiến Đ được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Bà Lê Thị Thùy D không phải cấp dưỡng nuôi con.
2.3 Về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Ông Trương Tiến Đ phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; 147, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Tiến Đ đối với bà Lê Thị Thùy D về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Tiến Đ được ly hôn với bà Lê Thị Thùy D.
- Về con chung: Ông Trương Tiến Đ và bà Lê Thị Thùy D có 01 người con chung là cháu Trương Tiến P, sinh ngày 13/2/2011
Giao con chung là cháu Trương Tiến P cho ông Trương Tiến Đ được trực tiếp nuôi duỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Bà Lê Thị Thùy D không phải cấp dưỡng nuôi con
Sau khi ly hôn, bà Lê Thị Thùy D được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Ông Trương Tiến Đ phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng số 0008906 ngày 01/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức. Như vậy, ông Đ đã nộp đủ.
3. Trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai, đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND H. Châu Đức - TAND tỉnh BR-VT. - Chi cục THADS H. Châu Đức; - UBND xã X, H. X, Tỉnh Đ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Trần Thị Hồng Hạnh |