- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Phạm Thị D và Nguyễn Thanh T"
- Tòa quyết gì? * Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2024/DS-ST Ngày: 26 – 3 - 2024 "V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM
TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lanh.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà: Nguyễn Thị Hồng Thắm.
2. Ông: Nguyễn Trung Du.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
- Ñaïi dieän Vieän kieåm saùt nhaân daân huyeän Vuõng Lieâm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Lệ Uyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 382/2023/TLST – DS ngày 31 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 02năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị D, sinh năm: 1978 (có mặt).
Địa chỉ: ấp D, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1975 (có mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
- Người làm chứng:
1/- Anh Nguyễn Văn X, sinh năm 1973 (có mặt).
Địa chỉ: ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
2/- Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện O, tỉnh Vĩnh Long.
3/- Chị Trần Thị D, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp X, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 09/10/2023, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà hôm nay nguyên đơn bà Phạm Thị D trình bày:
Bà là hụi viên còn bà T là đầu thảo hụi, bà có tham gia 03 dây hụi do bà T làm đầu thảo, cụ thể:
Dây thứ nhất: Hụi mở ngày 20/8(âl)/2021 nhằm ngày 26/9(dl)/2021 mãn hụi ngày 20/5/2023al nhằm ngày 7/7/2023dl, loại hụi tiền 5.000.000đ, một tháng khui hụi một lần, có 21 phần, bà tham gia 1 phần, tiền huê hồng cho đầu thảo là 2.500.00đ. Bà góp hụi cho bà T được 16 lần với số tiền vốn là 56.200.000đ, cụ thể vào các ngày như sau:
Lần 1 ngày 20/8/2021 al nằm ngày 26/9/2021 dl kêu 1.500.000đ bà D đóng 3.500.000đ.
Lần 2 ngày 20/9/2021 al nằm ngày 25/10/2021 dl kêu 1.300.000đ bà D đóng 3.700.000đ.
Lần 3 ngày 20/10/2021 al nằm ngày 24/11/2021 dl kêu 1.450.000đ bà D đóng 3.550.000đ.
Lần 4 ngày 20/11/2021 al nằm ngày 23/12/2021 dl kêu 1.550.000đ bà D đóng 3.450.000đ.
Lần 5 ngày 20/12/2021 al nằm ngày 22/01/22 dl kêu 1.600.000đ bà D đóng 3.400.000đ.
Lần 6 ngày 20/01/2022 al nằm ngày 20/02/22 dl kêu 1.650.000đ bà D đóng 3.350.000đ.
Lần 7 ngày 20/02/2022 al nằm ngày 22/03/22 dl kêu 1.600.000đ bà D đóng 3.400.000đ.
Lần 8 ngày 20/03/2022 al nằm ngày 20/4/2022 dl kêu 1.500.000đ bà D đóng 3.500.000đ.
Lần 9 ngày 20/04/2022 al nằm ngày 20/5/2022 dl kêu 1.550.000đ bà D đóng 3.450.000đ.
Lần 10 ngày 20/05/2022 al nằm ngày 18/6/2022 dl kêu 1.600.000đ bà D đóng 3.400.000đ .
Lần 11 ngày 20/06/2022 al nằm ngày 18/7/2022 dl kêu 1.450.000đ bà D đóng 3.550.000đ.
Lần 12 ngày 20/07/2022 al nằm ngày 17/8/2022 dl kêu 1.450.000đ bà D đóng 3.550.000đ.
Lần 13 ngày 20/08/2022 al nằm ngày 15/9/2022 dl kêu 1.300.000đ bà D đóng 3.700.000đ.
Lần 14 ngày 20/09/2022 al nằm ngày 15/10/2022 dl kêu 1.350.000đ bà D đóng 3.650.000đ .
Lần 15 ngày 20/10/2022 al nằm ngày 13/11/2022 dl kêu 1.450.000đ bà D đóng 3.550.000đ.
Lần 16 ngày 20/11/2022 al nằm ngày 13/12/2022 dl kêu 1.550.000đ bà D đóng 3.450.000đ.
Đến lần khui hụi thứ 17 thì bà T không cho bà tham gia tiếp tục nên bà T không gom tiền hụi của bà nên bà yêu cầu bà T phải trả cho bà 16 lần hụi chết với số tiền là 80.000.000đ.
Dây thứ hai: Hụi mở ngày 15/6(âl)/2022 nhằm ngày 13/7(dl)/2022 mãn hụi ngày 15/1/2024 al nhằm ngày 24/2/2024, loại hụi tiền 2.000.000đ, một tháng khui hụi một lần, có 23 phần, bà tham gia 01 phần, bà góp được 05 lần hụi cho bà T với số tiền là 7.310.000đ cụ thể vào các ngày như sau:
Lần 01 ngày 15/6/2022 al nằm ngày 13/7/2022 dl kêu 500.000đ bà D đóng 1.500.000đ.
Lần 02 ngày 15/7/2022 al nằm ngày 12/8/2022 dl kêu 620.000đ bà D đóng 1.380.000đ.
Lần 03 ngày 15/8/2022 al nằm ngày 10/9/2022 dl kêu 400.000đ bà D đóng 1.600.000đ.
Lần 04 ngày 15/9/2022 al nằm ngày 10/10/2022 dl kêu 570.000đ bà D đóng 1.430.000đ.
Lần 05 ngày 15/10/2022 al nằm ngày 08/11/2022 dl kêu 600.000đ bà D đóng 1.400.000đ.
Đến lần khui hụi thứ 06 thì bà T không cho bà tham gia hụi tiếp tục nên bà T không có gom tiền hụi của bà nên bà yêu cầu bà T phải trả cho bà 05 lần hụi chết với số tiền là 10.000.000đ.
Dây thứ ba: Hụi mở ngày 02/11(âl)/2021 nhằm ngày 05/12(dl)/2021dl mãn hụi ngày 12/8/2023 al, loại hụi tiền hụi 5.000.000đ, một tháng khui hụi một lần, có 21 phần, bà tham gia 01 phần, ở dây hụi này bà đã hốt hụi xong và bà còn nợ lại bà T số tiền hụi chưa góp là 40.000.000đ.
Tổng cộng dây hụi thứ nhất và dây hụi thứ hai bà đã góp hụi cho bà T là 90.000.000đ, nay bà yêu cầu bà T phải trả cho bà số tiền hụi của hai dây hụi là 90.000.000đ bà đồng ý trừ số tiền hụi 40.000.000đ của dây hụi thứ ba cho bà T nên số tiền hụi còn lại bà yêu cầu bà T phải có nghĩa vụ trả cho bà là 50.000.000đ.
* Tại bảng khai ý kiến ngày 05/01/2024, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà hôm nay bị đơn bà Nguyễn Thanh T trình bày:
Bà là đầu thảo hụi còn bà D là hụi viên, bà D có tham gia của bà 03 dây hụi, cụ thể:
Dây thứ nhất: Hụi mở ngày 20/8(âl)/2021 nhằm ngày 26/9(dl)/2021 mãn hụi ngày 20/5/2023 al, loại hụi tiền 5.000.000đ, một tháng khui hụi một lần, có 21 phần, bà D tham gia 1 phần, tiền huê hồng cho đầu thảo là 2.500.000đ. Bà D góp hụi cho bà được 16 lần với số tiền vốn là 56.200.000đ, đến lần khui hụi thứ 17 thì bà D ngưng không tham gia hụi tiếp nên bà phải tiếp tục choàng hụi cho bà D đến khi hụi mãn 04 lần.
Dây thứ hai: Hụi mở ngày 15/6(âl)/2022 nhằm ngày 13/7(dl)/2022 mãn hụi ngày 15/01/2023 loại hụi tiền 2.000.000đ, một tháng khui hụi một lần, có 23 phần, bà D tham gia 01 phần, bà D góp được 05 lần hụi cho bà với số tiền là 7.310.000đ đến lần khui hụi thứ 06 thì bà D ngưng không tham gia hụi tiếp nên bà phải choàng hụi cho bà D 18 phần hụi còn lại.
Dây thứ ba: Hụi mở ngày 02/11(âl)/2022 nhằm ngày 25/11(dl)/2022 mãn hụi ngày 12/8/2023, loại hụi tiền hụi 5.000.000đ, một tháng khui hụi một lần, có 21 phần, bà D tham gia 01 phần, ở dây hụi này bà D đã hốt hụi xong và bà D còn nợ lại bà số tiền hụi chưa góp là 40.000.000đ.
Nay bà D yêu cầu bà phải trả cho bà D số tiền hụi của dây thứ nhất và dây thứ hai là 90.000.000đ thì bà không đồng ý mà bà chỉ đồng ý trả cho bà D số tiền hụi thứ nhất là 56.200.000đ và dây hụi thứ hai là 7.310.000đ và bà đồng ý trả lãi theo lãi suất là 10%/năm đối với số tiền bà D đã đóng cho bà. Bà D đồng ý trừ số tiền hụi 40.000.000đ của dây hụi thứ ba cho bà thì bà đồng ý.
* Tại phiên tòa hôm nay ngƣời làm chứng ông Nguyễn Văn X trình bày: Ông không có quan hệ họ hàng với bà D, ông là bạn mua bán chung với bà D, có vài lần ông chở bà D đến nhà bà T để bà D lấy tiền hụi của bà T, tại nhà bà T ông nghe bà T hứa với bà D là còn nợ bà D số tiền hụi là 90.000.000đ.
* Tại bảng khai ý kiến ngày 05 tháng 12 năm 2023 ngƣời làm chứng anh Nguyễn Thanh H trình bày: Anh có biết việc bà D với bà T chơi hụi với nhau, thường hàng tháng vào lúc 08, 09 giờ sáng tại quán bánh mì chợ Hiếu Thành lần cuối anh nghe nói bà T mượn hụi bà D ghé lấy tiền, nghe bà T nói cả hai là 90.000.000đ hứa trả nhiều lần nhưng đến giờ chưa trả, anh chỉ nghe bà T hứa trả.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 04 tháng 01 năm 2024 ngƣời làm chứng chị Trần Thị D trình bày: Chị không có mối quan hệ họ hàng với chị T, chị T làm đầu thảo hụi, chị là hụi viên, chị tham gia nhiều dây hụi do chị T làm đầu thảo hụi, các lần tham gia hụi chị T đều giao hụi đầy đủ cho chị, dây hụi khui ngày 20/8/2021 chị có tham gia, trong danh sách hụi có chị Phạm Thị D tham gia, ở lần khui hụi đầu tiên chị không nhớ có chị D tham gia hay không nhưng chị nhớ có tháng khui thì chị D có mặt, có tháng thì không có mặt, ở dây hụi này chị biết được chị D đóng được 15 lần, đến lần thứ 15 thì chị T báo với hụi viên là chị D ngưng không đóng hụi nữa nên các lần khui tiếp theo chị T vẫn choàng cho hụi viên đến khi mãn hụi, lý do chị D không tham gia tiếp tục hụi là vì ở dây hụi khui ngày 02/11/2021 chị D hốt xong không đóng tiền hụi chết cho chị T, chị D yêu cầu được hốt dây hụi 20/8/2021 nữa nên chị T không cho hốt vì vậy chị D không tiếp tục tham gia. Khi tham gia hụi thì chị T và hụi viên có thỏa thuận là một hụi viên khi tham gia nhiều dây hụi thì không được quyền hốt hụi hết phải giữ lại 01 dây đến khi mãn.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và nội dung vụ án:
Trình tự tố tụng: thụ lý vụ án, thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giải quyết vụ án đã được Tòa án tiến hành đúng theo quy định của pháp luật. Thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ Luật tố tụng dân sự về thời hạn chuẩn bị xét xử.
Trình tự tố tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án:
Áp dụng: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2, 4 Điều 91, Điều 147, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 468, 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 10, Điều 15, Điều 22 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về Họ, hụi, biêu phường; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị D, buộc bà Nguyễn Thanh T có trách nhiệm trả cho bà Phạm Thị D số tiền nợ hụi là 34.733.000đ.
Về án phí: Bà Phạm Thị D chịu án phí là 763.000đ; bà T chịu án phí 1.874.000đ.
Tại phiên tòa đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ được thể hiện tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên Toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Toà, Tòa án nhận định:
Về tố tụng dân sự:
Nguyên đơn bà D có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long giải quyết tranh chấp hợp đồng góp hụi giữa bà D và bị đơn bà T. Bà T có nơi cư trú tại ấp Hiếu Xuân Tây, xã Hiếu Thành, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm.
Về nội dung vụ án:
Hợp đồng góp hụi giữa bà D và bà T được thiết lập dựa trên sự tự nguyện giữa đôi bên nên hợp đồng này phù hợp theo quy định của pháp luật.
Bà D trình bày bà D là hụi viên còn bà T là là đầu thảo hụi, bà D có tham gia 03 dây hụi của bà T. Nay bà D yêu cầu bà T trả cho bà D số tiền hụi của dây hụi thứ nhất và dây hụi thứ hai là 90.000.000đ, đồng thời bà D đồng ý trừ số tiền hụi 40.000.000đ của dây hụi thứ ba mà bà D thiếu của bà T nên số tiền hụi còn lại bà D yêu cầu bà T phải có nghĩa vụ trả cho bà D là 50.000.000đ. Bà T không đồng ý theo yêu cầu của bà D.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn cũng thống nhất ngày khui hụi, các lần khui hụi, ngày mãn hụi, số tiền bà D đã đóng cho bà T nhưng bà D cho rằng bà T đã mượn hụi ở dây hụi ngày 20 tháng 8 năm 2021 của bà để hốt khi chưa có sự đồng ý của bà, khi bà D yêu cầu được hốt hụi thì bà T không cho hốt nên bà D ngưng không đóng hụi cho bà T, đến khi hụi mãn thì bà D yêu cầu bà T trả tiền hụi chết cho bà D thì bà T có hứa là sẽ trả cho bà D số tiền hụi của hai dây hụi chết tổng cộng là 90.000.000đ thể hiện qua các lần bà D đi đến nhà bà T để đòi tiền thì có anh X và anh H làm chứng, bà T không đồng ý mà bà T cho rằng do bà D tự ý nghĩ không đóng hụi cho bà, khi tham gia hụi thì bà có thỏa thuận là nếu ai tham gia 02 dây thì chỉ được hốt 01 dây, 01 dây còn lại thì bà giữ lại đến khi mãn hụi mới được hốt, do bà D tham gia hụi của bà 03 dây nhưng bà D đã hốt 01 dây, 02 dây còn lại 01 dây 2.000.000, 01 dây 5.000.000đ bà D yêu cầu được hốt 01 dây 5.000.000đ bà T không đồng ý nên bà D không tiếp tục tham gia góp hụi mà tự ý ngưng, việc thỏa thuận hốt hụi có thành viên trong dây hụi là chị Trần Thị D cùng thừa nhận vì vậy bà T không đồng ý trả hụi chết cho bà D.
Xét yêu cầu của bà D là có căn cứ để chấp nhận một phần bởi việc tham gia hụi giữa bà T và bà D là có thật, 02 bên đều thống nhất số tiền góp hụi nhưng bà D và bà T không giao kết rõ ràng việc gom hụi và hốt hụi, lời khai của những người làm chứng cũng chưa đủ căn cứ để xác định việc bà T có đồng ý trả số tiền hụi chết cho bà D nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 22 nghị định 19/2019/CP của Chính Phủ buộc bà T có nghĩa vụ trả cho bà D số tiền vốn của dây hụi thứ nhất là 56.200.000đ và dây hụi thứ hai là 7.310.00đ và lãi suất được tính 10%/năm cụ thể như sau:
Dây hụi khui ngày 20/8/2021al nhằm ngày 26/9/2021 dl, loại hụi tiền 5.000.000đ.
Lần 1 ngày 20/8/2021 al nằm ngày 26/9/2021 dl kêu 1.500.000đ bà D đóng 3.500.000đ.
3.500.000đ x 0.83%/ tháng x 30 tháng (từ ngày 26/9/2021 đến 26/3/2024) = 871.000đ.
Lần 2 ngày 20/9/2021 al nằm ngày 25/10/2021 dl kêu 1.300.000đ bà D đóng 3.700.000đ.
3.700.000đ x 0.83%/ tháng x 29 tháng 01 ngày (từ ngày 25/10/2021 đến 26/3/2024) = 891.500đ.
Lần 3 ngày 20/10/2021 al nằm ngày 24/11/2021 dl kêu 1.450.000đ bà D đóng 3.550.000đ .
3.550.000đ x 0.83%/ tháng x 28 tháng 02 ngày (từ ngày 24/11/2021 đến 26/3/2024) = 826.913đ.
Lần 4 ngày 20/11/2021 al nằm ngày 23/12/2021 dl kêu 1.550.000đ bà D đóng 3.450.000đ.
3.450.000đ x 0.83%/ tháng x 27 tháng 03 ngày (từ ngày 23/12/2021 đến 26/3/2024) = 776.000đ.
Lần 5 ngày 20/12/2021 al nằm ngày 22/01/22 dl kêu 1.600.000đ bà D đóng 3.400.000đ.
3.400.000đ x 0.83%/ tháng x 26 tháng 04 ngày (từ ngày 22/01/2022 đến 26/3/2024) = 736.500đ.
Lần 6 ngày 20/01/2022 al nằm ngày 20/02/22 dl kêu 1.650.000đ bà D đóng 3.350.000đ.
3.350.000đ x 0.83%/ tháng x 25 tháng 06 ngày (từ ngày 20/02/2022 đến 26/3/2024) = 700.500đ.
Lần 7 ngày 20/02/2022 al nằm ngày 22/03/22 dl kêu 1.600.000đ bà D đóng 3.400.000đ.
3.400.000đ x 0.83%/ tháng x 24 tháng 04 ngày (từ ngày 22/03/2022 đến 26/3/2024) = 681.000đ.
Lần 8 ngày 20/03/2022 al nằm ngày 20/4/2022 dl kêu 1.500.000đ bà D đóng 3.500.000đ .
3.500.000đ x 0.83%/ tháng x 23 tháng 06 ngày (từ ngày 20/04/2022 đến 26/3/2024) = 674.000đ.
Lần 9 ngày 20/04/2022 al nằm ngày 20/5/2022 dl kêu 1.550.000đ bà D đóng 3.450.000đ .
3.450.000đ x 0.83%/ tháng x 22 tháng 06 ngày (từ ngày 20/05/2022 đến 26/3/2024) = 635.500đ.
Lần 10 ngày 20/05/2022 al nằm ngày 18/6/2022 dl kêu 1.600.000đ bà D đóng 3.400.000đ.
3.400.000đ x 0.83%/ tháng x 21 tháng 08 ngày (từ ngày 18/06/2022 đến 26/3/2024) = 603.000đ.
Lần 11 ngày 20/06/2022 al nằm ngày 18/7/2022 dl kêu 1.450.000đ bà D đóng 3.550.000đ.
3.550.000đ x 0.83%/ tháng x 20 tháng 08 ngày (từ ngày 18/07/2022 đến 26/3/2024) = 596.500đ.
Lần 12 ngày 20/07/2022 al nằm ngày 17/8/2022 dl kêu 1.450.000đ bà D đóng 3.550.000đ .
3.550.000đ x 0.83%/ tháng x 19 tháng 09 ngày (từ ngày 17/08/2022 đến 26/3/2024) = 568.500đ.
Lần 13 ngày 20/08/2022 al nằm ngày 15/9/2022 dl kêu 1.300.000đ bà D đóng 3.700.000đ .
3.700.000đ x 0.83%/ tháng x 18 tháng 11 ngày (từ ngày 15/9/2022 đến 26/3/2024) = 564.000đ.
Lần 14 ngày 20/09/2022 al nằm ngày 15/10/2022 dl kêu 1.350.000đ bà D đóng 3.650.000đ.
3.650.000đ x 0.83%/ tháng x 17 tháng 11 ngày (từ ngày 15/10/2022 đến 26/3/2024) = 526.000đ.
Lần 15 ngày 20/10/2022 al nằm ngày 13/11/2022 dl kêu 1.450.000đ bà D đóng 3.550.000đ .
3.550.000đ x 0.83%/ tháng x 16 tháng 13 ngày (từ ngày 13/11//2022 đến 26/3/2024) = 483.000đ.
Lần 16 ngày 20/11/2022 al nằm ngày 13/12/2022 dl kêu 1.550.000đ bà D đóng 3.450.000đ.
3.450.000đ x 0.83%/ tháng x 15 tháng 13 ngày (từ ngày 13/12/2022 đến 26/3/2024) = 441.500đ.
Tổng tiền lãi là 10.101.500đ
Dây hụi khui ngày 15/6/2022 nhằm ngày 13/7/2022 dl loại hụi 2.000.000đ.
Lần 01 ngày 15/6/2022 al nằm ngày 13/7/2022 dl kêu 500.000đ chị D đóng 1.500.000đ.
1500.000đ x 0.83%/ tháng x 20 tháng 13 ngày (từ ngày 13/7/2022 đến 26/3/2024) = 254.000đ.
Lần 02 ngày 15/7/2022 al nằm ngày 12/8/2022 dl kêu 620.000đ chị D đóng 1.380.000đ.
1.380.000đ x 0.83%/ tháng x 19 tháng 14 ngày (từ ngày 12/8/2022 đến 26/3/2024) = 223.000đ.
Lần 03 ngày 15/8/2022 al nằm ngày 10/9/2022 dl kêu 400.000đ bà D đóng 1.600.000đ.
1.600.000đ x 0.83%/ tháng x 18 tháng 16 ngày (từ ngày 10/9/2022 đến 26/3/2024) = 244.500đ.
Lần 04 ngày 15/9/2022 al nằm ngày 10/10/2022 dl kêu 570.000đ bà D đóng 1.430.000đ.
1.430.000đ x 0.83%/ tháng x 17 tháng 16 ngày (từ ngày 10/10/2022 đến 26/3/2024) = 207.500đ.
Lần 05 ngày 15/10/2022 al nằm ngày 08/11/2022 dl kêu 600.000đ bà D đóng 1.400.000đ.
1.400.000đ x 0.83%/ tháng x 16 tháng 18 ngày (từ ngày 08/11/2022 đến 26/3/2024) = 192.500đ.
Tổng tiền lãi là 1.121.500đ.
Tổng tiền lãi của dây hụi thứ nhất và dây hụi thứ hai là 11.223.000đ. Tổng vốn và lãi của hai dây hụi là 74.733.000đ.
Buộc bà T phải có nghĩa vụ trả cho bà D tổng cộng số tiền vốn và lãi của dây hụi thứ nhất và dây huị thứ hai là 77.733.000đ, tại phiên tòa bà T và bà D thống nhất trừ đi số tiền 40.000.000đ của dây hụi thứ 3 mà bà D còn nợ bà T nên buộc bà T phải trả cho bà D số tiền 34.733.000đ.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.
Án phí dân sự sơ thẩm: các đương sự phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 468, Điều 471 của Bộ luật dân sự; Điều 22 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
* Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị D.
Buộc bà Nguyễn Thanh T phải có nghĩa vụ trả lại cho bà Phạm Thị D số tiền hụi còn nợ lại là 34.733.000đ (Ba mươi bốn triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải Bàu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc Phạm Thị D phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 763.000đ (Bảy trăm sáu mươi ba nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 1.874.000đ (Một triệu tám trăm bảy mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu số N00008426 ngày 31/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm. Hoàn trả lại cho bà D số tiền 1.111.000đ (Một triệu một trăm mười một nghìn đồng).
Buộc bà Nguyễn Thanh T phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 1.736.500đ (Một triệu bảy trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND huyện Vũng Liêm; - Chi cụcTHADS huyện Vũng Liêm; - Các đương sự; - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Lanh |