vanban.org

Bản án 22/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 09/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/9/2022 . Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN QUỐC H TRỘM CẮP TS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG KHÁNH
TỈNH ĐỒNG NAI
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HS-ST
Ngày: 09 - 3- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Lê Thị Hồng Thanh

2/ Bà Nguyễn Thị Mỹ Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện VKSND thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 09/3/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2023/HSST ngày 12/01/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXX ST-HS ngày 22/02/2023 đối với bị cáo:

Trần Quốc H (tên gọi khác: Basi, Lê Văn H), sinh năm 1986, tại Đồng Nai. Nơi cư trú: Khu phố 5, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật. Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa (học vấn): 0/12. Con ông Trần Văn N, sinh năm 1948 và bà Lê Thị Kim T, sinh năm 1951 (chết).

Tiền án: 04, ngày 30/11/2010, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh (nay là thành phố Long Khánh) xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 114/2010/HS-ST. Ngày 28/02/2011, chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 14/3/2012, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh (nay là thành phố Long Khánh) xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 19/2012/HSST. Ngày 17/4/2015, chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 26/9/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh (nay là thành phố Long Khánh) xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 89/2016/HSST. Ngày 23/11/2018, chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 20/4/2021, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 117/2021/HS-PT. Ngày 27/6/2022, chấp hành xong hình phạt tù.

Nhân thân: Ngày 22/7/1998, bị UBND tỉnh Đồng Nai áp dụng đưa vào Trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 16/9/2004; Ngày 05/6/2006, bị UBND tỉnh Đồng Nai áp dụng đưa vào Trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 21/9/2022, bị Công an phường Xuân Tân ra Quyết định số 24/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính mức phạt 1.500.000 đồng do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo H bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 16/9/2022 đến ngày 25/9/2022, bị tạm giam cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Long Khánh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1994. Nơi cư trú: khu phố t, phường x, thành phố l, Đồng Nai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quốc H là đối tượng nghiện ma túy, có nhiều tiền án về tội trộm cắp tài sản, vừa mới chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương và không có nghề nghiệp ổn định. Để có tiền tiêu xài cá nhân, khoảng 01 giờ 30 phút ngày 16/9/2022, H điều khiển mô tô nhãn hiệu Suprise, biển số: 84K5- 3278 đi từ nhà trọ ông Dũng, thuộc khu phố 5, phường X, thành phố L đến phường Xuân Tân, thành phố Long Khánh để tìm kiếm chỗ nào sở hở trộm cắp tài sản. Khi đến đoạn Ngã ba Tân Phong, Quốc lộ 1A, thuộc khu phố C, phường X, thành phố L phát hiện vựa trái cây “N Nguyễn” của chị Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1994, ngụ tại ấp Đ, xã H, thành phố L làm chủ đang mở cửa, đèn sáng, phía ngoài có 01 người đàn ông đang nằm ngủ say trên ghế. H dựng xe cách đó khoảng 10m rồi đi vào nhà tìm tài sản. H đi vào phía trong phòng ngủ thấy chị N cùng 02 người con đang nằm ngủ trên giường nên lấy 01 điện thoại di động Iphone 13 màu hồng trên bàn học, 01 điện thoại di động Iphone 11 màu đỏ để bên cạnh chị N đang nằm. Tiếp tục tìm kiếm xung quanh thấy trên bàn trang điểm có 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, H lấy bỏ vào túi quần và 01 con heo đất màu xanh lá cây. Sau khi lấy trộm xong tài sản, H điều khiển xe về lại nhà trọ. Trên đường về đến đoạn gần nhà hàng Spring Garden, thuộc ấp Bảo Định, xã Xuân Định, huyện Xuân Lộc, H dừng lại, đập con heo đất lấy tiền bên trong được 450.000 đồng. Số tài sản trộm được H mang về phòng trọ cất giấu. Sau khi bị mất trộm tài sản, chị N đến Công an phường Xuân Tân trình báo sự việc. Qua xác minh, Công an phường Xuân Tân xác định H là đối tượng nghi vấn lấy trộm tài sản nên đã phối hợp với Công an phường Xuân An tiến hành kiểm tra phòng trọ của H và thu giữ tòa bộ các tài sản H mới lấy trộm được.

Tại kết luận định giá tài sản số 71/HĐĐGTSTTTHS ngày 16/9/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Khánh kết luận:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11-64Gb, số seri C7CC2KX6N72L, màu đỏ, đã qua sử dụng có giá trị 8.833.000 đồng (tám triệu, tám trăm ba mươi ba ngàn đồng).

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13-128 Gb, số seri N37QKK2K7L, màu hồng, đã qua sử dụng có giá trị 15.833.000 đồng (mười lăm triệu, tám tram ba mươi ba ngàn đồng).

* Vật chứng thu giữ:

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11-64Gb, số seri C7CC2KX6N72L, màu đỏ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13-128 Gb, số seri N37QKK2K7L, màu hồng; số tiền 650.000 đồng (sáu trăm, năm mươi ngàn đồng); 01 con heo đất màu xanh đã vỡ. Thu giữ 01 áo khoác màu đen; 01 quần Jean, dài, màu xanh nhạt; 01 mũ vải màu đen. Thu giữ 02 đoạn clip từ camera an ninh ghi hình bị can H trộm cắp tài sản được lưu trữ vào 01 đĩa DVD. Thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Suprise, biển số: 84K5- 3278.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số: 14/CT-VKS-HS ngày 12/01/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Trần Quốc H phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành Long Khánh, tỉnh Đồng Nai đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015.

- Về hình phạt: đề nghị xử phạt bị cáo Trần Quốc H từ 03 năm đến 04 năm tù.

-

Về xử lý vật chứng :

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11-64Gb, số seri C7CC2KX6N72L, màu đỏ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13-128 Gb, số seri N37QKK2K7L, màu hồng; số tiền 650.000 đồng (sáu trăm, năm mươi ngàn đồng); 01 con heo đất màu xanh đã vỡ. Hiện đã trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Thu N.

Đề nghị tiêu hủy 01 áo khoác màu đen; 01 quần Jean, dài, màu xanh nhạt; 01 mũ vải màu đen. Thu giữ 02 đoạn clip từ camera an ninh ghi hình bị can H trộm cắp tài sản được lưu trữ vào 01 đĩa DVD lưu kèm hồ sơ vụ án.

Thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Suprise, biển số: 84K5- 3278. Qua xác minh chiếc xe này do chị Đặng Thị Loan, sinh năm 1985, ngụ tại ấp Thanh Bình, xã Tân Bình, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh đứng tên chủ sở hữu, vào năm 2008 chị N bán xe cho 01 người lạ mặt. Vào khoảng tháng 6/2022, H mua lại của một người lạ mặt không có có giấy tờ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục tạm giữ để xác minh, xử lý sau.

- Về trách nhiệm dân sự: Chị N đã nhận đủ số tài sản do H lấy trộm và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Do không có việc làm, nhưng muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 01 giờ 30 phút ngày 16/9/2022, tại vựa trái cây N Nguyễn, thuộc khu phố C phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai bị cáo Trần Quốc H đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đỏ có giá trị 8.833.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13, màu hồng; có giá trị 15.833.000 đồng và 650.000 đồng tiền mặt của chị Nguyễn Thị Thu N. Tổng giá trị là 25.316.000 đồng (hai mươi lăm triệu, ba trăm mười sáu ngàn đồng). Do bị cáo H có 04 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là “tái phạm nguy hiểm”.

Do đó, đủ cơ sở khẳng định bị cáo Trần Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có khả năng lao động và nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do không có việc làm lại muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Bên cạnh đó, bị cáo đã từng bị xét xử và bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính về hành vi “trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó là bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải có mức án thật nghiêm để bị cáo suy nghĩ về hành vi phạm tội của mình, rèn luyên, cải tạo, học tập, lao động trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội, biết tuân thủ pháp luật.

4 Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nhưng bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị xét xử và bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính về hành vi “trộm cắp tài sản”.

Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối hận về hành vi vi phạm của mình, tài sản trộm cắp đã được trả lại cho người bị hại, tại phiên Tòa người bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Ngoài ra, tại phiên tòa bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Tài sản bị cáo trộm cắp có tổng giá trị là 25.316.000 đồng (hai mươi lăm triệu, ba trăm mười sáu ngàn đồng). Do bị cáo H có 04 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là “tái phạm nguy hiểm” nên sẽ bị xét xử bị cáo ở khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Ngoài hình phạt chính, Hội đồng xét xử không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11-64Gb, số seri C7CC2KX6N72L, màu đỏ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13-128 Gb, số seri N37QKK2K7L, màu hồng; số tiền 650.000 đồng (sáu trăm, năm mươi ngàn đồng); 01 con heo đất màu xanh đã vỡ. Hiện đã trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Thu N nên không xét.

Đối với 01 áo khoác màu đen; 01 quần Jean, dài, màu xanh nhạt; 01 mũ vải màu đen thu giữ của bị cáo, hiện các vật chứng trên đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh. Tại phiên tòa bị cáo xác định đó là tài sản của bị cáo nhưng quần áo đã cũ, không còn giá trị sử dụng, bị không yêu cầu nhận lại. Do đó tiêu hủy theo quy định.

02 đoạn clip từ camera an ninh ghi hình bị cáo H trộm cắp tài sản được lưu trữ vào 01 đĩa DVD tiếp tục lưu kèm hồ sơ vụ án.

Thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Suprise, biển số: 84K5- 3278. Qua xác minh chiếc xe này do chị Đặng Thị L, sinh năm 1985, ngụ tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh đứng tên chủ sở hữu, vào năm 2008 chị N bán xe cho 01 người lạ mặt. Vào khoảng tháng 6/2022, H mua lại của một người lạ mặt không có có giấy tờ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục tạm giữ để xác minh, xử lý sau.

* Về bồi thường dân sự: Chị N đã nhận đủ số tài sản do H lấy trộm và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

8 Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/9/2022 .

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Tiêu hủy 01 áo khoác màu đen; 01 quần Jean, dài, màu xanh nhạt; 01 mũ vải màu đen (Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/3/2023)

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Trần Quốc H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị bản án: Bị cáo và người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Cỡ chữ