vanban.org

Bản án 22/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 21/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Kim N phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Kim N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị cáo chấp hành án. Về trách Nệm dân sự: Áp dụng Điều 357, 468, 584, 585 Bộ luật dân sự 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Kim N - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Kim N phạm tội "Cố ý gây thương tích".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN N DÂN
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 22/2023/HS-ST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày: 21/02/2023

N DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM

TÒA ÁN N DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Chí L

Các Hội thẩm N dân:

1. Bà Trần Thị L

2. Ông Trần Đăng Kh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Ư – Thư ký Tòa án N dân thành phố Rạch Giá.

- Đại diện Vện kiểm sát N dân thành phố Rạch Giá tham gia phiên tòa: Ông Lê H V – Kiểm sát Vên.

Trong ngày 21 tháng 02 năm 2022. Tại phòng xử án của Tòa án N dân thành phố Rạch Giá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2023/TLST-HS ngày 18/01/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/HSST-QĐ ngày 03 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Kim N, sinh ngày 29/4/1985 tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 7 khu phố Thông Chữ, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Số 179 Lê Phụng Hiểu, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Vệt Nam; con ông Huỳnh Công Hiệp, sinh năm 1960 và bà Phạm Ánh H, sinh năm 1961; có vợ Trương Thị Thúy V, sinh năm 1983; có con tên Huỳnh Gia Hân, sinh năm 2020.

- Tiền án, tiền sự: Chưa

Ngày 05/5/2022, có hành V Cố ý gây thương tích; ngày 06/12/2022, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 185, ngày 06/12/2022. Hiện bị cáo đang tại ngoại ở số 179 Lê Phụng Hiểu, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kin Giang.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1979 (có mặt)

Địa chỉ: Số 20/2 đường Nguyễn Thái Học, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Người làm chứng:

- Bà Trương Thị Thúy V, sinh năm 1983 (có mặt)

Địa chỉ: Số 179 đường Lê Phụng Hiểu, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Bà Trương Thị Kim H, sinh năm 1992 (có mặt)

Địa chỉ: Số 173 đường Lê Phụng Hiểu, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Ông Tô Tuấn P, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 163 đường Quang Trung, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Bà Lý Trường N, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: P6 – 50 đường 3 tháng 2, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng hơn 23 giờ ngày 05/5/2022, Nguyễn Thanh H và Tô Tuấn P đến quán "SOMTUMDER" tại địa chỉ số P6 - 50 đường 3 Tháng 2, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang để uống bia. Khi đến quán, P gọi điện thoại cho Vy (chưa rõ N thân, lai lịch) và Trương Thị Thúy V đến tiếp bia. Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 06/5/2022, P và H cho Vy và Thúy V mỗi người 300.000 đồng và tính tiền quán đi về. Lúc này, Thúy V thấy P và H cho ít tiền nên yêu cầu cho thêm nhưng P và H không đồng ý nên xảy ra cự cãi. Lúc này, em ruột của Thúy V là Trương Thị Kim H điện thoại hỏi sao đã trễ mà Thúy V chưa về thì Thúy V khóc và kể lại toàn bộ sự Vệc cho H nghe. Sau đó, Thúy V điện thoại cho cH là Huỳnh Kim N nhờ N đi cùng H đến đón Thúy V về. Lúc này, N lấy cây ba khúc để vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô chở H đến quán “SOMTUMDER" tìm Thúy V (H không biết N đem theo cây ba khúc). Khi đến nơi, N cầm cây gậy ba khúc đi vào cự cãi với P và H. Thấy N cầm cây gậy ba khúc nên H cũng mở cóp xe lấy 01 cây gậy ba khúc. Liền lúc này, N xông đến dùng cây gậy ba khúc đánh trúng tay trái và trán của H gây thương tích. Thấy H bị đánh nên P xông vào can ngăn thì N lên xe chở Thúy V đi về nhà. Khi đi đến gần cổng chào Phú Cường, trên đường 3 Tháng 2, phường An Hòa, N ném bỏ cây gậy ba khúc, còn H được P đưa vào bệnh Vện đa khoa tỉnh Kiên Giang điều trị thương tích. Ngày 06/12/2022, Huỳnh Kim N bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra.

* Vật chứng đã thu giữ trong vụ án gồm có:

- 01 (một) cây gậy 03 khúc bằng kim loại, sau khi đánh gây thương tích cho người bị hại, bị can đã ném bỏ. Hiện Cơ quan điều tra không thu giữ được (bút lục số 45)

* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích, số 327/KL-PY ngày 01/6/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang kết luận thương tích của Nguyễn Thanh H như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo phần mềm vùng trán trái.

- Chấn thương cẳng tay trái, gãy kín xương trụ trái 1/3 dưới, hiện tại xương di lệch trục, chưa liền xương.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại ở:

- Vùng trán trái là: 03% (Ba phần trăm).

- Vùng cẳng tay trái là: 10% (Mười phần trăm).

3. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 13% (mười ba phần trăm).

4. Vật gây thương tích:

- Thương tích vùng trán trái do vật tày có cạnh gây nên.

- Thương tích vùng cẳng tay trái do vật tày gây nên.

5. Về chức năng bộ phận cơ thể: Các thương tích trên không gây hạn chế chức năng bộ phận cơ thể (bút lục số 20-22)

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Huỳnh Kim N đã thừa nhận toàn bộ hành V phạm tội như bản cáo trạng đã nêu và xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội làm ăn lương thiện. Đối với trách Nệm hình sự bị hại Nguyễn Thanh H cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đối với trách Nệm dân sự bị hại Nguyễn Thanh H yêu cầu bị cáo bồi thường tất các chi phí là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). Bị cáo đã bồi thường được 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), số tiền còn lại là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) bị cáo thống nhất tiếp tục bồi thường sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Đại diện Vện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Huỳnh Kim N phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Về hình phạt: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38, điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để tuyên phạt bị cáo Huỳnh Kim N từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

* Phần trách Nệm dân sự: Đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về Vệc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành V, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá Điều tra Vên, Vện kiểm sát N dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát Vên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành V, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành V, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung cáo trạng, lời khai tại cơ quan Điều tra, lời trình bày của người bị hại, người làm chứng và những tang vật thu được. Từ đó khẳng định: Vào khoảng 03 giờ ngày 06/5/2022, tại quán "SOMTUMDER" tại số P6 - 50 đường 3 Tháng 2, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, do mâu thuẫn từ Vệc Nguyễn Thanh H yêu cầu vợ của Huỳnh Kim N là Nguyễn Thị Thúy V đến ngồi tiếp bia nhưng trả tiền không đủ nên N đã dùng cây gậy ba khúc bằng kim loại là hung khí nguy hiểm đánh trúng tay trái và trán của H gây thương tích (qua giám định, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%).

Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Huỳnh Kim N phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như truy tố của Vện kiểm sát thành phố Rạch Giá là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật (khung hình phạt Điều luật quy định từ 02 năm đến 06 năm tù).

Xét thấy hành V phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo thực hiện tội phạm có ý thức và có năng lực chịu trách Nệm hình sự. Bị cáo có đầy đủ năng lực để nhận thức được rằng Vệc dùng gậy ba khúc bằng kim loại là hung khí nguy hiểm có khả năng gây sát thương cao khi đánh vào cơ thể của con người, tuy Nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành V phạm tội. Qua đó cho thấy hành V của bị cáo là hung hãn, liều lĩnh, thể hiện tính coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Do đó cần phải xử lý nghiêm khắc để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian thích đáng nhằm cải tạo răn đe bị cáo trở thành công dân tốt, để giáo dục phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành V phạm tội của mình, tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị hại yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có N thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt được qui định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Về tình tiết tăng nặng: Không có

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, bị cáo cũng có Nều tình tiết giảm nhẹ trách Nệm hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

Xử lý vật chứng: Không có

Về trách Nệm dân sự:

Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về Vệc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) cho bị hại sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Kim N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

Do bị cáo có thỏa thuận với bị hại về trách Nệm dân sự và yêu cầu HĐXX ghi nhận nên bị cáo không phải chịu án phí dân sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Kim N phạm tội "Cố ý gây thương tích".

- Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Kim N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

- Về trách Nệm dân sự: Áp dụng Điều 357, 468, 584, 585 Bộ luật dân sự 2015.

Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về Vệc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) cho bị hại sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

* Về án phí: Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Huỳnh Kim N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng)

- Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 21/02/2023.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ