vanban.org

Bản án 22/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hòa B, Nguyễn Thị Ngân N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hòa B 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Hoa B và ĐB phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hòa B, Nguyễn Thị Ngân N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HS-ST
Ngày: 06-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phơ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Trung

2. Ông Nguyễn Như Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài Thu - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Gấm - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 03 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXXST-HS ngày 17/02/2023, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hòa B (Tên gọi khác: T), sinh ngày 04/12/1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: phường Đ, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; họ và tên cha: Nguyễn Văn R (đã chết), họ và tên mẹ: Võ Thị Kim T, sinh năm 1973; vợ, con: Chung sống không đăng ký kết hôn với Nguyễn Thị Ngân N, sinh năm 1998, có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2022; có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Thị Ngân N (Tên gọi khác: /), sinh ngày 07/09/1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nữ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phường H, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 1/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; họ và tên cha: Huỳnh Văn D (đã chết), họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1972; chồng, con: Chung sống với Nguyễn Hòa B, sinh năm 1995 không

- 1 -

đăng ký kết hôn, có 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/9/2022 đến 18/9/2022, thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/9/2022 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Nguyên đơn dân sự: Công ty TNHH Thương mại B; địa chỉ: đường N, phường P, Quận L, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự: Bà Hoàng Thị Q, sinh năm 1994; địa chỉ: đường G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Hoàng P, sinh năm 1987; địa chỉ: xã Đ, huyện TL, tỉnh C; tạm trú: đường V, huyện NB (vắng mặt).

2. Ông Lê Thuận P, sinh năm 1972; địa chỉ: đường PT, Phường D Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: đường LT, phường TT, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hòa B và Nguyễn Thị Ngân N sống với nhau như vợ chồng từ tháng 05/2020, cả hai đều không có việc làm ổn định, mới được nhận vào thử việc tại Công ty TNHH Thương mại An Cát, B là nhân viên thử việc giao hàng cửa hàng K-Market tòa nhà Sky Garden, địa chỉ: Số 38 đường Phạm Văn Nghị, phường Tân Phong, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, N làm nhân viên thu ngân thử việc cửa hàng K-Market tòa nhà Midtown, địa chỉ: Đường 16, Khu phố 6, phường Tân Phú, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Cả hai không có tiền tiêu xài nên đã rủ nhau đi trộm cắp tài sản như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 28/07/2022, B rủ N đến cửa hàng K-Market tòa nhà Sky Garden trộm cắp tài sản. B chở N bằng xe Honda Wave màu đỏ biển số 59C2-626.79, đến nơi cả hai đứng chờ bên ngoài cho đến khi thấy vắng không còn người đi đường qua lại ngang cửa hàng, đến khoảng 00 giờ 20 phút, B kêu N ngồi bên ngoài trước cửa hàng cảnh giới, B đi đến gỡ giấy niêm phong, mở chốt cửa chính của cửa hàng, vào trong lấy trộm 07 thùng bia gồm: 05 thùng bia hiệu Tiger nâu, 01 thùng bia hiệu Tiger bạc và 01 thùng bia Heineken loại lon cao. Sau đó, cả hai tẩu thoát, mang đi bán cho ông Lê Hoàng P là chủ cửa hàng tạp hóa địa chỉ: Số 1080 đường Lê Văn Lương, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè được 2.100.000 đồng. Sau đó, cả hai tiếp tục quay lại cửa hàng K-Market tòa nhà Sky Garden để lấy trộm tiền trong ngăn kéo quầy thu ngân, B mở chốt cửa chính cửa hàng rồi đứng ngoài cảnh giới, N đi vào trong cửa hàng kích hoạt mở ngăn kéo máy tính tiền và lấy trộm số tiền là 87.529.000 đồng.

- 2 -

Vụ thứ hai: Khoảng 01 giờ 10 phút cùng ngày 28/07/2022, B tiếp tục chở N bằng xe Honda Wave màu đỏ biển số 59C2-626.79 đến cửa hàng K-Market tòa nhà Midtown. Đến nơi, B dùng chìa khóa của N đưa, mở cửa chính, cả hai đi vào trong cửa hàng, B lấy trộm 02 thùng bia hiệu Tiger nâu, 02 thùng bia hiệu Tiger bạc; N vào quầy thu ngân, dùng chìa khóa mở ngăn kéo máy tính tiền lấy trộm 46.586.000 đồng. Sau đó, B chở N mang 04 thùng bia đến cửa hàng tạp hóa do ông Lê Thuận P làm chủ, địa chỉ: Số 03 đường Lưu Trọng Lư, phường Tân Thuận Đông, Quận 7 bán được 1.200.000 đồng.

Vụ thứ ba: Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 08/09/2022, B tiếp tục rủ N trộm cắp tài sản, N đồng ý. B chở N bằng xe Honda Vario biển số 59C4-120.80, mang theo 01 cái kềm cộng lực đến cửa hàng tiện lợi K-Market tòa nhà Midtown. Cả hai chờ cho không còn người đi đường qua lại ngang cửa hàng, đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 09/09/2022, B đậu xe máy ở lề đường trước cửa hàng, N đứng cảnh giới, B dùng chìa khóa đưa N mở chốt khóa cửa chính, dùng kềm cộng lực cắt khóa ở hai tay cầm cửa chính của cửa hàng. Mở được cửa chính, B vứt kềm cộng lực vào bãi cỏ cạnh bồn hoa trước cửa hàng, vứt cái khóa dây vào thùng chứa rác rồi quay ra xe ngồi cảnh giới, N vào lấy trộm số tiền bán hàng là 44.650.000 đồng và 01 máy tính xách tay hiệu Dell Vostro 15 màu đen.

Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 09/09/2022, B chở N đến cửa hàng mua bán xe gắn máy cũ địa chỉ: Số 961 đường Trần Xuân Soạn, phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, mua 01 xe gắn máy hiệu SYM Shark màu trắng, biển số 59C2-014.35 với giá 10.500.000 đồng, đổ xăng hết 200.000 đồng. Cả hai đi ăn uống đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, đang trên đường về nhà trọ ở Bình Chánh thì bị trinh sát đội cảnh sát hình sự Công an Quận 7 kiểm tra mời về trụ sở làm rõ xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7, Nguyễn Hòa B và Nguyễn Thị Ngân N khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Kết luận định giá tài sản số 331/KL-HĐĐGTTHS ngày 21/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự, kết luận: 02 thùng bia Tiger lon loại 24x330ml có giá trị 713.000 đồng và 02 thùng bia Tiger Cry lon loại 24x330ml có giá trị 765.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 333/KL-HĐĐGTTHS ngày 21/09/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự, kết luận: 05 thùng bia Tiger lon loại 24x330ml có giá trị 1.782.500 đồng; 01 thùng bia Tiger Cry lon loại 24x330ml có giá trị 382.500 đồng, 01 thùng bia Heineken cao 24 lon, loại 24x330ml có giá trị 432.500 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 323/KL-HĐĐGTTHS ngày 16/09/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự UBND Quận 7, kết luận: 01 Laptop hiệu Dell Vostro màu đen, có giá trị 6.500.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

- 3 -

+ Thu giữ của Nguyễn Hòa B: Số tiền 23.585.000 đồng; 01 (một) laptop hiệu Dell Vostro màu đen; 01 (một) kềm cộng lực bằng kim loại, dài khoảng 37cm, thân màu xanh, có gắn cao su màu đen ở tay cầm, hiệu 3D USD mã số 3D142214; 03 (ba) chìa khóa bằng kim loại; 01 (một) xe máy Honda Vario màu xanh biển số 59C4-120.80; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu xanh.

+ Thu giữ của Nguyễn Thị Ngân N: 01 (một) xe gắn máy hiệu SYM Shark màu trắng biển số 59C2-014.35; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu xanh.

+ Tạm giữ của ông Lê Thuận P số tiền 1.480.000 đồng.

+ Tạm giữ của ông Lê Hoàng P số tiền 2.700.000 đồng.

Cáo trạng số 18/CT-VKSQ7 ngày 04/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố các bị cáo Nguyễn Hòa B, Nguyễn Thị Ngân N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự Công ty TNHH thương mại An Cát yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường tổng giá trị tài sản chưa thu hồi lại được là 182.840.500 đồng. Do các bị cáo đã trộm cắp tổng giá trị tài sản là 189.340.500, nhưng trừ đi số tiền trị giá 01 Laptop hiệu Dell Vostro màu đen là 6.500.000 đồng, Công ty TNHH thương mại An Cát có yêu cầu nhận lại. Vì vậy, Công ty TNHH thương mại An Cát yêu cầu bồi thường số tiền là 182.840.500 đồng.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hòa B, Nguyễn Thị Ngân N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 173, điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt: Nguyễn Hòa B từ 05 năm đến 06 năm tù, Nguyễn Thị Ngân N từ 04 năm đến 05 năm tù.

Xử lý vật chứng:

Trả cho Công ty TNHH Thương mại An Cát laptop hiệu Dell Vostro màu đen và 03 (ba) chìa khóa bằng kim loại.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước xe máy Honda Vario màu xanh biển số 59C4-120.80.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 23.585.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu xanh, 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu xanh, 01 (một) xe gắn máy hiệu SYM Shark màu trắng biển số 59C2-014.35 để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của các bị cáo.

- 4 -

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) kềm cộng lực bằng kim loại, dài khoảng 37cm, thân màu xanh, có gắn cao su màu đen ở tay cầm, hiệu 3D USD mã số 3D142214.

Trả lại cho ông Lê Thuận P số tiền 1.480.000 đồng; trả lại cho ông Lê Hoàng P số tiền 2.700.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo bồi thường số tiền là 182.840.500 đồng theo yêu cầu của Công ty TNHH thương mại An Cát.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tự bào chữa, không tranh luận, thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

- Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà;

- Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, nguyên đơn dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an Quận 7, Điều tra viên, Viện kiểm sát Nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và hình phạt: Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án; lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà, lời khai tại phiên tòa của người đại diện hợp pháp nguyên đơn dân sự, xét có đủ cơ sở để kết luận:

Các cửa hàng K-Market cho phép nhân viên có chìa khóa cửa của cửa hàng, do là nhân viên giao hàng đang trong thời gian thử việc tại cửa hàng K-Market tòa nhà Sky Garden nên Nguyễn Hoà B có chìa khóa cửa và biết mật mã mở ngăn kéo máy tính tiền cửa hàng K-Market tòa nhà Sky Garden. Nguyễn Thị Ngân N là nhân viên thu ngân đang trong thời gian thử việc tại cửa hàng K-Market tòa nhà Midtown nên có chìa khoá cửa, chìa khoá ngăn kéo máy tính tiền, biết mật mã mở ngăn kéo máy tính tiền cửa hàng K-Market tòa nhà Midtown.

Vào ngày 27/8/2022 và ngày 08/09/2022, sau khi kết thúc ca làm việc

- 5 -

các bị cáo đi về nhà nghỉ. Mặc dù, các bị cáo được các cửa hàng K-Market nơi làm việc đồng ý cho các bị cáo có chìa khóa cửa chính cửa hàng, bị cáo N là nhân viên thu ngân nên được biết mật mã mở ngăn kéo máy tính tiền cửa hàng, nhưng các bị cáo làm việc theo ca và chỉ được phép sử dụng chìa khóa cửa, chìa khóa ngăn kéo máy tính tiền, mật mã mở ngăn kéo máy tính tiền trong ca làm việc của mình. Đối với bị cáo N, trước khi cùng với bị cáo B trở lại cửa hàng lấy tài sản, thì lúc kết thúc ca làm việc ngày hôm đó, bị cáo N đã cộng tiền bán hàng thu được trong ca làm, báo cáo lên nhóm, thông báo chuyển giao tiền lại cho ca tiếp sau và về nhà nghỉ.

Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 28/7/2022, khi đi đến cửa hàng K-Market tòa nhà Sky Garden, do thấy vẫn còn người đi đường qua lại ngang cửa hàng, nên cả hai đứng canh bên ngoài, chờ cho đến khi không còn người đi đường nữa, thì N đứng bên ngoài cảnh giới, để B đi vào lấy 05 thùng bia Tiger lon loại 24x330ml và đem đi bán được 2.100.000 đồng. Sau đó, cả hai quay trở lại cửa hàng này, B đứng ngoài cảnh giới cho N vào trong mở ngăn kéo máy tính tiền lấy đi số tiền mặt 87.529.000 đồng. Tiếp theo, khoảng 01 giờ 10 phút, cả hai đến cửa hàng K-Market tòa nhà Midtown, cùng vào trong lấy tài sản, B lấy 04 thùng bia hiệu Tige, N dùng chìa khóa mở ngăn kéo máy tính tiền lấy 46.586.000 đồng. Lấy tài sản xong, cả hai mang 04 thùng bia bán được 1.200.000 đồng.

Vào ngày 08/09/2022, B rủ N đến cửa hàng tiện lợi K-Market tòa nhà Midtown lấy tài sản, B mang theo 01 cái kềm cộng lực, đến nơi khoảng 22 giờ 45 phút, cả hai chờ đến khoảng 01 giờ 30 phút, khi không còn người đi đường qua lại ngang cửa hàng, B đậu xe máy ở lề đường trước cửa hàng, N đứng cảnh giới, B dùng chìa khóa đưa N mở chốt khóa cửa chính, dùng kềm cộng lực cắt khóa ở hai tay cầm cửa chính rồi quay ra xe ngồi cảnh giới, để N vào lấy trộm số tiền bán hàng là 44.650.000 đồng và 01 máy tính xách tay hiệu Dell Vostro màu đen, sau đó cả hai tẩu thoát.

Cho thấy: Các bị cáo Nguyễn Hòa B, Nguyễn Thị Ngân N đã lợi dụng sự thiếu chặt chẽ, lơ là trong quản lý, cất giữ tài sản tại các cửa hàng K-Market, nhiều lần lén lút chiếm đoạt tài sản và số lượng lớn tiền mặt. Theo các Kết luận định giá tài sản số 331/KL-HĐĐGTTHS ngày 21/9/2022, số 333/KL-HĐĐGTTHS ngày 21/09/2022 và số 323/KL-HĐĐGTTHS ngày 16/09/2022 như sau:

05 (năm) thùng bia Tiger lon loại 24x330ml, có giá trị 1.782.500 đồng.

01 (một) thùng bia Tiger Cry lon loại 24x330ml, có giá trị 382.500 đồng.

01 (một) thùng bia Heineken cao 24 lon, loại 24x330ml, có giá trị 432.500 đồng.

02 (hai) thùng bia Tiger lon loại 24x330ml, có giá trị 713.000 đồng.

02 (hai) thùng bia Tiger Cry lon loại 24x330ml, có giá trị 765.000 đồng.

01 (một) Laptop hiệu Dell Vostro màu đen, có giá trị 6.500.000 đồng.

- 6 -

Tiền mặt: 87.529.000 đồng, 46.586.000 đồng và 44.650.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 189.340.500 (Một trăm tám mươi chín triệu ba trăm bốn mươi nghìn năm trăm) đồng.

Vì vậy, hành vi trên đây của các bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, thuộc trường hợp chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát Nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, biết rõ trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Vì động cơ, mục đích tham lam, tư lợi. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, đã xâm hại trực tiếp đến tài sản sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn ở địa phương, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục cải tạo riêng và ngăn ngừa chung trong xã hội.

Trong vụ án, bị cáo B là người rủ rê bị cáo N và sử dụng xe gắn máy chở bị cáo N cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền để cùng nhau tiêu xài, các bị cáo là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo không thừa nhận, đồng thời không có tài liệu, chứng cứ nào cho thấy các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại các cửa hàng K-Mark có sự bàn bạc, tính toán, sắp đặt trước, nên không có cơ sở xác định các bị cáo phạm tội có tổ chức.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong vụ án, các bị cáo thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, nên thuộc trường hợp phạm tội hai lần trở lên là tình tiết năng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét quyết định mức hình phạt cho tương xứng với tính chất vụ án, hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân của các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo trộm cắp, chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của Công ty TNHH thương mại An Cát gây thiệt hại, nên có trách nhiệm bồi thường 182.840.500 đồng cho Công ty TNHH thương mại An Cát. Trong đó, bị cáo Nguyễn Hòa B bồi thường 103.213.000 (Một trăm lẻ ba

- 7 -

triệu hai trăm hai trăm mươi ba nghìn) đồng, bị cáo Nguyễn Thị Ngân N bồi thường 79.627.500 (Bảy mươi chín triệu sáu trăm ha mươi bảy nghìn năm trăm) đồng.

Đối với ông Lê Thuận P và ông Lê Hoàng P khi mua các thùng bia do các bị cáo bán, đều không biết tài sản do các bị cáo phạm tội mà có, tự nguyện nộp lại số tiền bán bia; không có tài liệu, chứng cứ nào trong hồ sơ cho thấy ông Lê Thuận P và Lê Hoàng P biết hoặc có liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý là có căn cứ.

Xử lý vật chứng vụ án:

01 (một) laptop hiệu Dell vostro 15-3578-NGMPF22 (i5-8250U) màu đen đã qua sử dụng các bị cáo lấy trộm của Công ty TNHH thương mại An Cát, nên trả lại cho Công ty TNHH thương mại An Cát.

03 (ba) chìa khóa bằng kim loại là tài sản của Công ty TNHH thương mại An Cát nên trả lại cho Công ty TNHH thương mại An Cát.

01 (một) kềm cộng lực bằng kim loại, dài khoảng 37cm, thân kềm sơn màu xanh, có gắn cao su ở tay cầm màu đen, hiệu 3D USD mã số 3D142214 là công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.

01 (một) xe máy Honda Vario màu xanh biển số 59C4-120.80, số máy: JM51E1955345, số khung: MH1JM5111MK956282, do bị cáo Nguyễn Hòa B đứng tên chủ sở hữu, bị cáo B làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu xanh và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu xanh; 01 (một) xe gắn máy hiệu SYM Shark màu trắng biển số 59C2-014.35, số máy: VMVVBAD019520, số khung: RLRBA12AD019520, tất cả đều là tài sản các bị cáo dùng tiền phạm tội mà có để mua, nên tiếp tục lưu giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án khoản tiền bồi thường thiệt hại 182.840.500 đồng cho Công ty TNHH thương mại An Cát của các bị cáo.

Tiếp tục lưu giữ số tiền 23.585.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Hòa B để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án khoản tiền bị cáo B phải bồi thường hiệt hại cho Công ty TNHH thương mại An Cát 103.213.000 (một trăm lẻ ba triệu hai trăm hai trăm mươi ba nghìn) đồng và án phí hình sự sơ thẩm (Lệnh thanh toán lập ngày 21/12/2022 – Bút lục 224).

Xét ông Lê Thuận P tự nguyện nộp lại số tiền bán bia 1.480.000 đồng, ông Lê Hoàng P tự nguyện nộp lại số tiền bán bia 2.700.000 đồng, tuy nhiên, ông Phú, ông Phúc không có liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, nên trả lại tiền này cho ông Phú, ông Phúc.

Đối với xe hiệu Honda Wave màu đỏ, biển số 59C2-626.79 là phương tiện các bị cáo sử dụng đi trộm cắp tài sản, xe do bà Võ Thị Kim Thuý là mẹ ruột

- 8 -

bị cáo Nguyễn Hoà B đứng tên sở hữu, bà T giao xe cho bị cáo B sử dụng, không biết bị cáo B sử dụng xe đi trộm cắp tài sản. Bị cáo B sau khi sử dụng xe đi trộm cắp tài sản đã cho bà Nguyễn Thị H là mẹ ruột của bị cáo N xe này để sử dụng, do không có tiền nên bà H bán xe trên cho người đàn ông không rõ lai lịch được 1.500.000 đồng. Bà H không biết các bị cáo B, N sử dụng xe đi trộm cắp tài sản, nên cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được xe hiệu Honda Wave màu đỏ, biển số 59C2-626.79, nên không xem xét.

Đối với ông Trần Văn H đứng tên chủ sở hữu, ông Trần Ngọc B mua và bán lại xe gắn máy hiệu SYM Shark màu trắng biển số 59C2-014.35 cho bị cáo Nguyễn Hòa B, bị cáo B mua xe này từ tiền phạm tội mà có, ông H và ông B khai đã bán xe nên không có yêu cầu gì. Do đó, không cần thiết đưa ông Trần Văn H, ông Trần Ngọc B tham gia tố tụng trong vụ án.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự, dân sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hòa B, Nguyễn Thị Ngân N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.1. Áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hòa B 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ 12/9/2022.

1.2. Áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ngân N 04 (bốn) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam trước đó từ ngày 12/9/2022 đến ngày 18/9/2022.

2. Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015:

2.1. Trả cho Công ty TNHH thương mại An Cát 01 (một) laptop hiệu Dell vostro 15-3578-NGMPF22 (i5-8250U) màu đen và 03 (ba) chìa khóa bằng kim loại.

2.2. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) kềm cộng lực bằng kim loại, dài khoảng 37cm, thân kềm sơn màu xanh, có gắn cao su ở tay cầm màu đen, hiệu 3D USD mã số 3D142214.

- 9 -

2.3. Tịch thu sung quỹ Nhà nước gồm: 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Vario, màu xanh, biển số 59C4-120.80, số máy: JM51E1955345, số khung: MH1JM5111MK956282.

(Biên bản về việc giao nhận vật chứng số 42 ngày 06/02/2023 – Bút lục 224A)

2.4. Tiếp tục lưu giữ 01 (một) xe gắn máy hiệu SYM Shark màu trắng biển số 59C2-014.35, số máy: VMVVBAD019520, số khung: RLRBA12AD019520; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu xanh, số IMEI: 359137271801497 để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án khoản tiền các bị cáo phải bồi thường hiệt hại cho Công ty TNHH thương mại An Cát.

2.5. Tiếp tục lưu giữ số tiền 23.585.000 (Hai mươi ba triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn) đồng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án khoản tiền bị cáo B phải bồi thường hiệt hại cho Công ty TNHH thương mại An Cát 103.213.000 (Một trăm lẻ ba triệu hai trăm mười ba nghìn) đồng và án phí hình sự sơ thẩm, (Lệnh thanh toán lập ngày 21/12/2022 – Bút lục 224).

2.6. Các bị cáo được nhận số tiền còn lại (nếu có) sau khi thi hành xong khoản tiền bồi thường thiệt hại và án phí sơ thẩm.

2.7. Trả cho ông Lê Thuận P số tiền 1.480.000 (Một triệu bốn trăm tám mươi nghìn) đồng, (Lệnh thanh toán lập ngày 21/12/2022 – Bút lục 224).

2.8. Trả cho ông Lê Hoàng P số tiền 2.700.000 (Hai triệu bảy trăm nghìn) đồng, (Lệnh thanh toán lập ngày 21/12/2022 – Bút lục 224).

2.9. Buộc bị cáo Nguyễn Hòa B bồi thường cho Công ty TNHH thương mại An Cát là 103.213.000 (Một trăm lẻ ba triệu hai trăm mười ba nghìn) đồng.

2.10. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ngân N bồi thường cho Công ty TNHH thương mại An Cát là 79.627.500 (Bảy mươi chín triệu sáu trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm) đồng.

3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Hòa B phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 5.161.000 (Năm triệu một trăm sáu mươi mốt nghìn) đồng.

Bị cáo Nguyễn Thị Ngân N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 3.982.000 (Ba triệu chín trăm tám mươi hai nghìn) đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

- 10 -

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ