vanban.org

Bản án 22/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 09/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trịnh Phi H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trịnh Phi H 01 (một) năm tù, được tổng hợp với hình phạt 05 năm tù theo bản án số 56/2020/HSST ngày 20/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng và Bản án số 91/2020/HSST ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng. Tổng hình phạt là 06 (sáu) năm tù, thời gian chấp hàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Phi Hậu - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trịnh Phi H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ XUYÊN
TỈNH SÓC TRĂNG
__________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HS-ST
Ngày: 09/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG

,

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Mến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Văn Hiệp;

Bà Nguyễn Hồng Phượng.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Hải – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mỹ Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Bưởi – Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2023 đối với:

- Bị cáo: Trịnh Phi H; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 06 tháng 4 năm 1993; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Số C đường P, Khóm F, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: lớp 11/12; Họ và tên cha: Trịnh Minh H1, sinh năm 1962; Họ và tên mẹ: Phan Thị Hồng T, sinh năm 1963; Anh chị em ruột có 04 người, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1994, bị cáo là con thứ 3; Vợ, con: chưa có.

Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án về Tội trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 09 tháng tù giam theo bản án số 70/2016/HSST ngày 28/9/2016, chấp hành xong ngày 30/9/2015.

Tiền sự: Không.

Về nhân thân: Bị cáo bị xử phạt 01 năm tù theo bản án số 70/2016/HSST ngày 28/9/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, chấp hành xong ngày 09/7/2017; Xử phạt 02 năm tù theo Bản án số 24/2018/HSST ngày 14/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, chấp hành xong ngày 15/10/2019; Xử phạt 02 năm 06 tháng tù theo Bản án số 56/2020/HSST ngày 20/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng và xử phạt 02 năm 06 tháng tù theo Bản án số 91/2020/HSST ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng. Tổng hợp hình phạt phải chấp hành là 05 năm tù, tính từ ngày 08/8/2020. Bị cáo H hiện đang chấp hành án 05 năm tù theo bản án số 56/2020/HSST ngày 20/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng và Bản án số 91/2020/HSST ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng

Bị cáo có mặt.

- Bị hại: Ông Sơn Thái B, sinh năm 1995 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1994 (vắng mặt). Nơi cư trú: Số E đường L, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 08/4/2016, do không có tiền tiêu xài nên trong lúc đi uống cà phê cùng bạn là Nguyễn Minh T1 thì bị cáo Trịnh Phi H đã rủ T1 cùng đi tìm tài sản trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng thì T1 đồng ý. Do đó T1 điều khiển xe mô tô biển số 62K5-3492 của mình chở H đi theo đường Q hướng từ thành phố S về xã Đ, huyện M để tìm tài sản lấy trộm. Khi đi ngang Hẻm A thuộc ấp T, xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng thì T1 và H nhìn thấy phía trong hẻm có để nhiều đồ phụ tùng bằng sắt của máy cày để cặp theo lộ dal trong hẻm nhưng không có người trông coi nên cả hai thống nhất quay lại vào trong hẻm lấy trộm các tài sản này. Khi vào trong Hẻm A, H và T1 cùng nhau khiêng 01 cái bánh nối bánh lồng máy cày bằng sắt có đường kính 1,5 mét để lên xe mô tô 62K5-3492 rồi T1 điều khiển xe mô tô chở H ngồi sau cùng với tài sản trộm được đi ra khỏi hẻm tìm nơi tiêu thụ. Khi cả hai mới ra tới đầu hẻm thì bị anh Sơn Thái B là chủ tài sản phát hiện nên truy hô mọi người đuổi theo bắt quả tang được H và T1 cùng tang vật. Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Trịnh Phi H đã thành khẩn thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra đã thu giữ 01 bánh nối bánh lồng máy cày bằng sắt có hình trụ, có hai thanh sắt V4 đường tròn dài 3,5m, đường kính 1,5m, chiều cao có 20 thanh sắt V4 (mỗi đoạn dài 35cm) là tài sản mà bị cáo trộm cắp, sau khi làm rõ đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Sơn Thái B. Ngoài ra còn thu giữ 01 xe mô tô màu đỏ biển số 62K5-3492 cùng với 01 giấy đăng ký xe số 0004505 của xe 62K5-3492, là phương tiện dùng để phạm tội của bị cáo Trịnh Phi H và người thực hiện chung là Nguyễn Minh T1.

Tại Cáo trạng số 14/CT-VKSMX ngày 17 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, đã truy tố đối với bị cáo Trịnh Phi H về “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Phi H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội là vào khoảng 12 giờ ngày 08/4/2016, bị cáo cùng với T1 đã lấy trộm 01 bánh nối bánh lồng máy cày bằng sắt của ông Sơn Thái B. Trong phần lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trong quá trình điều tra, bị hại ông Sơn Thái B đã nhận lại được tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cáo trạng số 14/CT-VKSMX ngày 17 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên và áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm h, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Phi H từ 09 tháng đến 12 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản bị mất trộm, không có yêu cầu nên không xem xét; Về vật chứng: Vật chứng đã được xử lý tại giai đoạn điều tra là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Đối với vật chứng là 01 xe mô tô màu đỏ biển số 62K5-3492 cùng với 01 giấy đăng ký xe số 0004505 của xe 62K5-3492 chưa xác định được chủ sở hữu, đề nghị giao cho Công an huyện M tiếp tục xác minh làm rõ chủ sở hữu và xử lý theo thủ tục hành chính và đề nghị tuyên án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Về tố tụng:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị hại là Sơn Thái B và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh T1 vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, tại giai đoạn điều tra những người vắng mặt nêu trên đã có lời khai rõ ràng, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt họ.

Về nội dung:

Tại phiên toà, bị cáo Trịnh Phi H khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy để sử dụng nên vào khoảng hơn 12 giờ ngày 08/4/2016 bị cáo H đã cùng với Nguyễn Minh T1 điều khiển xe mô tô biển số 62K5-3492 đi đến Hẻm A thuộc ấp T, xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng để lén lút lấy trộm 01 bánh nối bánh lồng máy cày của anh Sơn Thái B, có giá trị qua định giá là 950.000 đồng, nhưng chưa kịp đem đi tiêu thụ thì bị bắt quả tang. [2] Tại bản Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG ngày 06/01/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự trên địa bàn huyện M, kết luận như sau: 01 cái bánh nối bánh lồng máy cày, có hình trụ, có hai thanh sắt V4 đường tròn dài 3,5m, đường kính 1,5m, chiều cao có 20 thanh sắt V4 (mỗi đoạn dài 35cm). Tài sản có giá trị còn lại là 95%, với tổng số tiền là 950.000 đồng. Bị cáo Trịnh Phi H là người đã có 01 tiền án về Tội trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 09 tháng tù theo Bản án số 22/2015-HSST ngày 26/3/2015. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/9/2015, chưa được xóa án tích nhưng đã tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ. Tài sản bị cáo trộm tổng trị giá 950.000 đồng, thuộc tình tiết định tội tài sản trộm dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc trường hợp đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Do đó, Cáo trạng số 14/CT-VKSMX ngày 17 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên đã truy tố đối với bị cáo Trịnh Phi H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo liên tục phạm tội, đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của các bị hại một cách trái pháp luật. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn gây mất an toàn trật tự xã hội và gây bất ổn an ninh ở địa phương. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo thật nghiêm khắc, nhằm để răn đe, giáo dục và góp phần phòng chống tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, tài sản bị thiệt hại có giá trị không lớn và đã thu hồi trả lại bị hại kịp thời nên chưa gây thiệt hại, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản, không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về vật chứng: Những vật chứng đã được xử lý tại giai đoạn điều tra là có căn cứ nên không đặt ra xem xét. Đối với vật chứng là 01 xe mô tô màu đỏ biển số 62K5-3492 cùng với 01 giấy đăng ký xe số 0004505 của xe 62K5-3492, xe này Nguyễn Minh T1 khai mua lại của người khác tại thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu và xác định người đăng ký chủ sở hữu xe là bà Thi Thị D, sinh năm 1987, nơi thường trú ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Bà D cho biết bà có sở hữu xe nêu trên nhưng vào khoảng năm 2009 bà đã bán xe này cho một người nam nhưng không rõ họ tên và địa chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M chưa ra thông báo truy tìm và chưa thông báo công khai theo quy định. Do đó Hội đồng xét xử chưa đủ căn cứ để xử lý nên quyết định giao xe và giấy đăng ký xe cho Công an huyện M tiếp tục xác minh làm rõ chủ sở hữu và xử lý theo thủ tục hành chính.

Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo Trịnh Phi H là người bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, điểm h, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Trịnh Phi H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Tuyên xử:

1. Xử phạt bị cáo Trịnh Phi H 01 (một) năm tù, được tổng hợp với hình phạt 05 năm tù theo bản án số 56/2020/HSST ngày 20/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng và Bản án số 91/2020/HSST ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng. Tổng hình phạt là 06 (sáu) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt chung được tính từ ngày 08/8/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về vật chứng:

Vật chứng đã được xử lý tại giai đoạn điều tra, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với vật chứng là 01 xe mô tô màu đỏ biển số 62K5-3492 cùng với 01 giấy đăng ký xe số 0004505 của xe 62K5-3492, giao cho Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng tiếp tục xác minh làm rõ chủ sở hữu và xử lý theo thủ tục hành chính.

(Những vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19 tháng 4 năm 2023).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trịnh Phi H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với người vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

6. Về việc thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ