- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Khánh V can tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Khánh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2023/HS-ST Ngày 24/10/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Hồng Hiệp
Bà Trần Thúy Kiều
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Trân-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa: Ông Cao Trương Minh Đức-Kiểm sát viên.
Ngày 24/10/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2023/TLST-HS ngày 03/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST-HS ngày 09/10/2023 đối với bị cáo:
Võ Khánh V (có tên gọi khác là Võ Chánh V, C), sinh ngày 01/01/1988; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; Con ông Võ Văn N (chết) và bà Huỳnh Thị H; Có vợ và 01 người con, sinh năm 2010; Tiền án: 02 lần, lần thứ nhất vào ngày 23/01/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2015/HSST ngày 23/01/2015, đến ngày 13/02/2020 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và lần thứ hai, vào ngày 03/02/2021 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự phúc thẩm số 13/2021/HS-PT, đến ngày 29/9/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, nhưng đến lần phạm tội này bị cáo chưa được xóa án tích; Tiền sự: 01 lần vào ngày 23/6/2023 bị Trưởng Công an xã C, huyện L xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số 23/QĐ-XPHC đến lần phạm tội này chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Về nhân thân: Vào ngày 25/10/2011 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục với thời hạn là 18 tháng về hành vi vi phạm nội quy của Trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội tỉnh Sóc Trăng tại Quyết định số 03/QĐ-XLHC, đến lần phạm tội này của bị cáo được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2023 cho đến nay. (có mặt)
- Bị hại: Ông Giang Văn C, sinh năm 1979; ấp T, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị Cẩm Nh, sinh năm 1990; Nơi cư trú: ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
- Người làm chứng:
1. Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1960; Nơi cư trú: ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
2. Ông Dương Văn Đ, sinh năm 1989; Nơi cư trú: ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
3. Ông Nguyễn Chí C, sinh năm 1985; Nơi cư trú: ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 19/6/2023, Võ Khánh V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83P2-361.50 từ nhà ấp S, xã T, huyện L lưu thông trên lộ đal ra ấp T, xã C, huyện L để đi thành phố S. Khi đi được một đoạn, V dừng xe lại đậu trên lộ đal để đi tiểu. Lúc này, V thấy nhà của ông Giang Văn C không có hàng rào, ở khu vực hông nhà của ông C có vòi nước, sẵn mang ma túy trên người nên V đi vào lấy nước để pha ma túy vào ống tiêm rồi tiêm vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma túy xong, V thấy xung quanh nhà ông C thấy không có người nên nảy sinh ý định đột nhập tìm tài sản để chiếm đoạt. V đi vào nhà của ông C bằng cửa sau để tìm kiếm tài sản nhưng không tìm thấy tài sản có giá trị nên V không lấy gì. V tiếp tục quay lại hông nhà của ông C và phát hiện 01 cái bao nylon màu xanh, bên trong có chứa 04 khối kim loại (má đùm sau xe mô tô); 03 khối kim loại (đùm xe mô tô); 01 khối kim loại (nắp máy Cu - le); 01 khối kim loại (bình xăng con xe mô tô); 01 khối kim loại (chân vịt); 01 khối kim loại (nắp đuôi cá xe mô tô), 01 khối kim loại (đầu đốt bếp gas), 01 khối kim loại (Roto mô tơ máy xay sinh tố) nên lấy trộm để bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, V dùng tay tóm miệng bao và xách bao nylon này từ hông nhà của ông C đi ra để ở dưới đất gần vị trí xe mô tô 83P2-361.50 và định lên xe tẩu thoát. Cùng thời điểm này, ông C đang dự tiệc ở gần nhà thì nghe tiếng người truy hô “trộm” từ phía nhà của ông C, nhưng không rõ là ai nên ông C đi về phía nhà và thấy V đi từ nhà ra cùng với bao phế liệu nên ông C truy hô thì ông Dương Văn Đ và ông Nguyễn Chí C chạy đến hỗ trợ vây bắt V. V thấy nhiều người truy hô vây bắt nên chạy vào phía sau nhà của ông C. Tại khu vực gần cửa ra vào, V thấy có ống kim loại màu đen, dài 100cm đang dựng ở vách tol nên V lấy và cầm trên tay trái. Sau đó, V cầm ống kim loại quay ra để chống trả nhằm mục đích tẩu thoát. Khi V thấy ông Đ trên tay có cầm 01 khúc cây tre nên V cầm ống kim loại đi tới gần ông Đ và đánh 01 cái từ trên xuống về phía của ông Đ. Bị V đánh ông Đ mới đưa khúc cây tre lên đỡ nên không trúng vào cơ thể. Khi đánh ông Đ thì V làm rơi ống kim loại xuống đất nên V bị ông C, ông Đ, ông C xông đến khống chế bắt giữ và giao cho lực lượng Công an xã C làm việc. Sau đó, Võ Khánh V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 19/KL-HĐĐGTS ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: 04 khối kim loại (má đùm sau xe mô tô); 03 khối kim loại (đùm xe mô tô); 01 khối kim loại (nắp máy Cu - le); 01 khối kim loại (bình xăng con xe mô tô); 01 khối kim loại (chân vịt); 01 khối kim loại (nắp đuôi cá xe mô tô), 01 khối kim loại (đầu đốt bếp gas), 01 khối kim loại (Roto mô tơ máy xay sinh tố) có tổng giá trị là 160.500 đồng.
Tại Cáo trạng số 19/CT-VKSLP ngày 03/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú đã truy tố bị cáo Võ Khánh V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
Bị cáo Võ Khánh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 173; điểm h Khoản 1 Điều 52; điểm h, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 03 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập xử lý.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội. Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa, bị hại là ông Giang Văn C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Lê Thị Cẩm N, người làm chứng là ông Dương Văn Đ và ông Nguyễn Chí C vắng mặt không có lý do chính đáng. Xét thấy, trong quá trình Điều tra thì những người nêu trên đã có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án và việc vắng mặt cũng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ vào Điều 292, Điều 293 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người nêu trên.
. Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Đối với bị cáo Võ Khánh V là người không có nghề nghiệp ổn định nhưng lại nghiện ma túy, vì muốn có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên vào khoảng 14 giờ ngày 19/6/2023, bị cáo đã lợi dụng nhà của người bị hại không có người trông giữ, rồi lén lút đột nhập vào nhà bị hại rồi chiếm đoạt 01 bao nylon bên trong có chứa nhiều khối kim loại gồm: má đùm sau xe mô tô, nắp máy Cu le, bình xăng con xe mô tô, chân vịt, nắp đuôi cá xe mô tô, đầu đốt bếp gas, roto mô tơ máy xay sinh tố thì bị mọi người phát hiện bắt giữ. Qua định giá tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt có giá trị là 160.500 đồng.
Hành vi của bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người bị hại một cách trái pháp luật. Mặc dù, tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng do bị cáo có 01 tiền án vào ngày 03/02/2021 tại Bản án hình sự phúc thẩm số 13/2021/HS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản” đến lần phạm tội này chưa được xóa án tích và khi bị phát hiện thì bị cáo đã nhặt ống kim loại đánh chống trả lại những người vây bắt bị cáo nhằm mục đích để tẩu thoát. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Võ Khánh V phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận và cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp.
. Tuy nhiên, khi lượng hình và quyết định mức hình phạt, cần xem xét đến tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng,
Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng vì đã bị kết án 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2015/HSST ngày 23/01/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng mà đến lần phạm tội này của bị cáo cũng chưa được xóa án tích. Do đó, bị cáo phạm tội thuộc tình tiết tặng nặng là tái phạm nên áp dụng điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để tăng nặng một phần hình phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, tài sản đã kịp thời thu hồi trả lại bị hại nên bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Do bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
. Xét lời đề nghị Kiểm sát viên về tội danh và việc áp dụng pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về hình phạt cần có mức hình phạt nghiêm thì mới đủ tính răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân tốt, biết tôn trọng pháp luật cũng như nhằm đảm bảo cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo ở mức trung bình như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ Khoản 2 Điều 173; điểm h Khoản 1 Điều 52; điểm h, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Võ Khánh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Xử phạt bị cáo Võ Khánh V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Giang Văn C không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Long Phú; - Đội Tổng hợp–CA huyện Long Phú; - CQTHAHS–CA huyện Long Phú; - Chi cục THADS huyện L; - UBND xã Tân H, huyện L; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Bảo Quốc |