vanban.org

Bản án 22/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 06/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng L 09 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 14/11/2022. Tuyên bố: Bị cáo Đặng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng L cùng đồng bọn - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC BÌNH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HS-ST
Ngày: 06-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Thanh Tr c Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1-Bà Phạm Thị Bích Lệ

2-Bà Nguyễn Thị Yến Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hoàng Bảo Vân-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Ông Tằn Đình Thống - Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 18/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2022, đối với các bị cáo:

1. Hoàng L (Tên gọi khác: C), sinh ngày: 26/03/2001 tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi cư tr : Thôn L, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 01/12.

Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Hoàng Hữu T, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1984; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân:

- Ngày 05/7/2017 bị Chủ tịch UBND xã Phan Rí Thành, huyện Bắc Bình ra Quyết định số 82/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn tại gia đình, trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày 05/7/2017 đến ngày 05/01/2018, về hành vi lén l t chiếm đoạt tài sản của người khác.

- Ngày 09/5/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt 12 tháng tù, về tội: Trộm cắp tài sản. Ngày 03/10/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt 18 tháng tù, về tội: Trộm cắp tài sản. Tổng hợp 02 bản án buộc chấp hành 30 tháng tù. Ngày 31/01/2019, L bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; tổng hợp hình phạt 30 tháng tù giam tại Bản án số 74/2018/HS-ST ngày 03/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong nên buộc L phải chấp hành chung cho cả hai Bản án là 48 tháng tù. Đến ngày 10/01/2022 thì chấp hành xong hình phạt tù (Theo bản án số 09/2019 HS-ST). Các bản án trên đều xác định khi thực hiện hành vi phạm tội, L đều dưới 18 tuổi nên không có án tích.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 14/11/2022 và tạm giữ, đến ngày 17/11/2022 chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Đặng H (Tên gọi khác: U), sinh ngày 05/8/1992 tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi cư tr : Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 02/12.

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Đặng N, sinh năm 1953 (đã chết) và bà Lê Thị Th, sinh năm 1957 (đã chết);

Bi cáo có vợ là Nguyễn Thị Kim Ch, sinh năm 1994 (đã ly hôn); Con: Có 01 người, sinh năm 2011.

Tiền án: Có 03 tiền án. Ngày 23/12/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 09/8/2017 (Theo bản án số 82/2016/HSST). Ngày 08/5/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 05/01/2020 (Theo bản án số 31/2019/HS-ST). Ngày 12/01/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 08/10/2021 (Theo bản án số 03/2021/HS-ST). Do 02 tiền án của bản án trước đã dùng vào việc định tội danh cho bản án sau, nên bản bản án sau không xác định tái phạm.

Tiền sự: Không.

Về Nhân thân: Ngày 17/8/2018 bị Chủ tịch UBND xã P, huyện B ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường trong thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma t y.

Bị can bị bắt ngày vào 30/11/2022 để tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Vòng Lỷ Ph, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ tự quản số 4, xã L, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng L (tức là N), sinh ngày 26/3/2001, ở thôn L và Đặng H (tức là U), sinh ngày 05/8/1992, ở thôn T, cùng ở xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận đều là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và đã từng bị kết án về tội trộm cắp tài sản, nay tiếp tục bí mật, lén lút lấy trộm cắp tài sản của người khác, cụ thể như sau:

Vào khoảng 23 giờ 30 ph t, ngày 13/11/2022, Hoàng L rủ Đặng H đi trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền mua ma t y sử dụng và H đồng ý. L và H bàn bạc phân công, H có nhiệm vụ chạy xe mô tô chở L đi đến khu vực xã HN, còn L là người trực tiếp đột nhập vào nhà của người dân để lấy trộm tài sản, khi lấy trộm tài sản bán lấy tiền thì L sẽ chia cho H 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Sau khi bàn bạc phân công nhiệm vụ xong, H lấy xe mô tô biển số 86S1-1981, màu xanh đen ở nhà của H chở L ngồi sau cầm 01 cây nhíp dài khoảng 15 cm rồi lấy băng keo đen quấn khoảng 2/3 độ dài cho dễ cầm (mục đích dùng để cạy khóa cửa) mang theo. H chạy xe mô tô chở L đến gần Miếu Quan Âm ở khu vực xã HN, huyện B, H dừng xe lại để cho L xuống đi bộ vào khu dân cư tìm nhà dân nào để tài sản sơ hở thì lấy trộm, còn H chạy xe mô tô đến Nhà ga SM (xã HN) để chờ L lấy trộm tài sản. Đến khoảng 00 giờ 30 ph t ngày 14/11/2022, H chạy xe mô tô đến Chợ HN gặp L hỏi lấy trộm được gì chưa, L trả lời chưa. L bảo H chạy xe mô tô chở L qua khu vực khác để tìm kiếm lấy trộm tài sản và H đồng ý. H chạy xe mô tô chở L đến khu vực thôn HL, xã HN bỏ L xuống chỗ bụi cây và nói với L nếu trộm được gì, thì L đi bộ đến ga SM để gặp H chở về nhà, nếu không gặp thì L tự về, rồi H chạy xe mô tô đến ga SM ngồi chờ, còn L đi bộ lòng vòng xung quanh thì phát hiện căn nhà số 153 đường Trưng Nữ Vương thuộc thôn L, xã HN, huyện B, có vòng thành phía sau khá thấp, dễ leo trèo nên L nảy sinh ý định đột nhập để trộm cắp tài sản. L leo qua vòng thành vào khu vực sân sau căn nhà và nhìn thấy cửa sau đang khóa chốt bên trong nên L dùng cây nhíp mang theo luồn vào trong khe cửa, kéo chốt trên của cánh cửa sau xuống và mở cửa đột nhập vào bên trong nhà. Khi vào bên trong nhà, L phát hiện ở phòng ngủ đầu tiên theo hướng đi đang đóng cửa nhưng không khóa, L mở cửa đi vào nhìn thấy vợ chồng ông Vòng Lỷ Ph, sinh năm 1970 đang ngủ trên giường, phía trên kệ gần cửa ra vào phòng có để 01 máy tính bảng hiệu HUAWEI, loại MediaPad T3 đang sạc pin nên L r t dây sạc ra và lấy chiếc máy tính bảng cầm trên tay, rồi L dùng tay lục các t i quần đang treo trên móc quần áo và lấy tiền mặt 180.000 đồng. Sau đó, L tiếp tục đi ra phía giữa nhà, nhìn thấy 01 điện thoại di động loại bàn phím cơ để trên kệ giữa lối đi từ nhà sau ra phòng khách, kế bên kệ có 01 t i vải màu đen rỗng để trên sàn nhà nên L lấy 01 điện thoại trên kệ, 01 máy tính bảng và tiền mặt 180.000 đồng vừa lấy trộm được trong phòng ngủ bỏ hết vào bên trong t i vải màu đen, rồi L cầm t i vãi màu đen có chứa những tài sản trên đi theo đường cũ, ngược lại ra phía bên ngoài. Khi L vừa trèo ra vòng thành phía sau nhà, thì bị lực lượng Công an xã HN đi tuần tra phát hiện bắt giữ L và đưa L cùng với tang vật về trụ sở Công an xã HN làm việc.

Tại Kết luận định giá tài sản số 76/2022/KL-HĐĐGTS ngày 15/11/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Bắc Bình kết luận:

- 01 máy tính bảng hiệu HUAWEI, loại MediaPad T3, Ram 02 GB, Rom 16 GB, màn hình cảm ứng, mặt trước được ép kính, có viền màu trắng, mặt sau làm bằng kim loại màu trắng bạc, mua mới vào năm 2017, trị giá 1.597.333 đồng;

- 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG, model GT-E1200Y (loại bàn phím cơ) mặt trước có kính, hình các chữ số và ký tự, mặt sau làm bằng nhựa màu trắng; được mua mới năm 2020, trị giá 240.000 đồng.

Tổng cộng: 1.597.333 đ + 240.000 đ = 1.837.333 đồng.

Về tang, vật chứng:

Sau khi định giá tài sản, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả 01 máy tính bảng, 01 điện thoại di động có đặc điểm nêu trên và tiền mặt 180.000 đồng cho người bị hại Vòng Lỷ Ph theo quy định pháp luật nên không xem xét giải quyết.

Đối với 01 dụng cụ kéo chốt cửa (nhíp) màu trắng, bằng kim loại có quấn băng keo màu đen, đây là công cụ do Hoàng L dùng vào việc phạm tội nên sẽ chuyển vào kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Bình để xem xét giải quyết đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Quá trình điều tra xác định: Xe mô tô biển số 86S1-1981, màu xanh đen do ông Hồ Ngọc Th1, sinh năm 1977, ở thôn H, xã Th, huyện B, tỉnh Bình Thuận đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Ông Th1 khai: Xe mô tô trên là của ông Th1 bị kẻ gian lấy trộm trong khoảng thời gian từ năm 2020 và năm 2021, ông Th1 có đến Công an xã Th trình báo mất xe mô tô trên; Đặng H và Đặng D (là em của H) khai xe mô tô trên là do D mua của người khác (không rõ nhân thân lai lịch) với số tiền 2.000.000 đồng. Từ căn cứ trên, xết thấy, chiếc xe mô tô trên có liên quan đến một vụ án trộm cắp khác nên Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiếp tục tạm giữ chiếc xe mô tô trên để điều tra xác minh, làm rõ xử lý sau.

Về phần dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, người bị hại Vòng Lỷ Ph không yêu cầu Hoàng L và Đặng H bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKS.HBB ngày 17/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình đã truy tố các bị cáo Hoàng L, Đặng H, về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy tại khoản 1 Điều 173 năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa,

*Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, các bị cáo nhận thấy việc làm của mình là trái pháp luật và xin được giảm nhẹ hình phạt.

*Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:

- Về hình sự:

+ Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt: Bị cáo Hoàng L từ 09 đến 12 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”.

+ Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt: Bị cáo Đặng H từ 09 đến 12 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 dụng cụ kéo chốt cửa (nhíp) màu trắng, bằng kim loại có quấn băng keo màu đen.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Bị hại được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, xét thấy tại giai đoạn điều tra cơ quan điều tra đã làm rõ các chứng cứ của vụ án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt bị hại là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ, đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng hơn 00 giờ 30 ph t ngày 14/11/2022, tại thôn HL, xã HN, huyện B, tỉnh Bình Thuận do Hoàng L là người khởi xướng, rủ rê Đặng H cùng lén lút, bí mật lấy trộm tài sản, gồm: Tiền mặt 180.000 đồng, 01 máy tính bảng nhãn hiệu HUAWEI, loại MediaPad T3, Ram 02 GB, Rom 16 GB, màn hình cảm ứng, mặt trước được ép kính, có viền màu trắng, mặt sau làm bằng kim loại màu trắng bạc và 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG model GT-E1200Y (loại bàn phím cơ) mặt trước có kính, hình các chữ số và ký tự, mặt sau làm bằng nhựa màu trắng của anh Vòng Lỷ Ph, với tổng sản tài giá trị chiếm đoạt 2.017.333 đồng.

Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Đặng H, Hoàng L, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đ ng người, đ ng tội, đ ng pháp luật.

. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

Đối với bị cáo Đặng H: Bị cáo có 03 tiền án về tội trộm cắp tài sản, đến nay chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội là tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Quá trình điều tra, các bị cáo Hoàng L và Đặng H đã thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, các bị cáo có nhân thân xấu.

. Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Vụ án có đồng phạm giản đơn: Trong đó, Hoàng L có vai trò là người khởi xướng, rủ rê Đặng H và là người trực tiếp thực hiện tội phạm, còng Đặng H có vai trò là người gi p sức tích cực cho L thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo là thanh niên khỏe mạnh, có khả năng lao động nhưng vì lười biếng, muốn nhanh có tiền tiêu xài cá nhân, nên lợi dụng sự sơ hở của bị hại để chiếm đoạt tài sản, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, không những đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, HĐXX sẽ cân nhắc áp dụng một hình phạt tương xứng đối với từng bị cáo, nhằm giáo dục các bị cáo thành công dân tốt, có ý thức tuân theo pháp luật.

. Về xử lý vật chứng: 01 dụng cụ kéo chốt cửa (nhíp) màu trắng, bằng kim loại có quấn băng keo màu đen, đây là công cụ do Hoàng L dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu, tiêu hủy.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Tuyên bố: Bị cáo Hoàng L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Bị cáo Hoàng L 09 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 14/11/2022.

2. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Tuyên bố: Bị cáo Đặng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Bị cáo Đặng H 09 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 30/11/2022.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 dụng cụ kéo chốt cửa (nhíp) màu trắng, bằng kim loại có quấn băng keo màu đen.

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08/02/2023)

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc mỗi bị cáo Hoàng L, Đặng H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (06/3/2023), bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ