- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn Vũ L; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2022/HSST ngày 18 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh An Giang.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22 /2023/HS-PT Ngày: 16-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Sơn
Các Thẩm phán:
1. Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng;
2. Ông Trần Minh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phan Ý Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Năng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 249/2022/TLPT-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo Bùi Văn Vũ L, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2022/HSST ngày 18 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Bùi Văn Vũ L, sinh năm 1991; nơi sinh: Huyện CT, tỉnh An Giang; nơi cư trú: p TL, xã TP, huyện CT, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H, sinh năm 1954 và bà L2ê Thị Đ, sinh năm 1962; anh, em có 04 người, bị cáo là người nhỏ nhất; vợ tên Nguyễn Thị D, sinh năm 1992, có 01 người con, sinh năm 2020;
Chưa có tiền án, tiền sự;
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12-6-2022 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 02 năm 2022, Bùi Văn Vũ L thông qua mạng xã hội Facebook để lập 02 địa chỉ chơi game, gồm: “toimailatoi” được cấp tài khoản Ngân hàng Techcombank số 19038324464016 do Nguyễn Văn H3 đứng tên; “188888888” được cấp tài khoản Ngân hàng Techcombank số 19038354654014 do Mai Ngọc O đứng tên, mục đích nạp tiền chơi game trực tuyến trên trang Web “nhacaisodo.net”.
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 11-6-2022, do cần nạp tiền chơi game nhưng không có tiền, L nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền tại cửa hàng điện thoại di động “Lê Bền” thuộc khu vực ấp TB, xã TĐ, huyện TT do bà Tạ Thảo L2 và ông Lê Văn B làm chủ. Để thực hiện, L điều khiển xe mô tô biển số 67C1-364.51 đến cửa hàng gặp bà L2 nhờ chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng số 19038324464016 do Nguyễn Văn H3 đứng tên với số tiền 8.100.000 đồng, nhờ chuyển vào tài khoản ngân hàng số 19038354654014 do Mai Ngọc O đứng tên với số tiền 8.150.000 đồng, sau đó L sẽ trả lại tiền mặt cho bà L2. Do tin tưởng nên bà L2 dùng số tài khoản Ngân hàng Viettinbank 103800076276 do ông Bền đứng tên chuyển vào 02 số tài khoản ngân hàng do L vừa cung cấp với tổng số tiền là 16.250.000 đồng và yêu cầu L trả lại tiền, L nói ra xe mô tô lấy tiền, nhưng khi ra xe L lên xe điều khiển xe bỏ chạy. Sau khi bị chiếm đoạt tiền, bà L2 trình báo Công an xã TĐ, đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì L bị bắt khẩn cấp để xử lý.
Ngày 20-6-2022, L bị khởi tố và tạm giam để điều tra.
Vật chứng thu giữ gồm:
- Tiền Việt Nam 6.000.000 đồng;
- 01 xe mô tô biển số 67C1-364.51, nhãn hiệu HONDA, loại AIRBLADE, số máy JF63E1728540, số khung RLHJF6308FZ728512;
- 01 tờ giấy tập học sinh ghi thông tin: Techcombank, 19038324464016, toi, Nguyen Van Hau; Techcombank, 19038354654014, 18, Mai Ngoc Oanh;
- 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 130.
Căn cứ Lệnh phong tỏa tài khoản số 01/LPT-CQĐT ngày 07-7-2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TT, thực hiện phong tỏa tài khoản số 0281000299978 của Bùi Văn Vũ L tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh BD thể hiện số dư trong tài khoản là 5.980.318 đồng.
Căn cứ Kết luận giám định số 218/KL-KTHS ngày 27-8-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, kết quả:
Trích xuất 32 ảnh từ dữ liệu 01 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TT gửi giám định, chi tiết thể hiện trong Phụ lục kèm theo;
Dữ liệu video lưu trữ trong đĩa DVD (ký hiệu A) gửi giám định: Không tìm thấy dấu hiệu bị cắt ghép hay chỉnh sửa.
Bản Cáo trạng số 26/CT–VKSTT ngày 04 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TT truy tố bị cáo Bùi Văn Vũ L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2022/HSST ngày 18 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh An Giang đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Vũ L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, điểm i khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt Bùi Văn Vũ L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 12-6-2022.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 23 tháng 11 năm 2022, bị cáo Bùi Văn Vũ L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Bùi Văn Vũ L vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị cáo khai nhận có thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã quy kết. Bị cáo không tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt với lý do số tiền cơ quan điều tra đang tạm giữ của bị cáo đã đủ để bồi thường cho bị hại.
- Kiểm sát viên thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án:
+ Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo được nộp trong thời hạn luật định, có nội dung rõ ràng, nên có cơ sở xem xét theo trình tự phúc thẩm.
+ Về nội dung:
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Bùi Văn Vũ L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Tuy nhiên, về đánh gía các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì nhận thấy, theo biên bản tòa sơ thẩm thể hiện (bút lục từ 265A-265D) thì bị hại có xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nhưng cấp sơ thẩm không đánh giá và áp dụng tình tiết giảm nhẹ này theo khoản 2 Điều 51 bộ luật Hình sự là có thiếu sót.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo nên đủ điều kiện áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn Vũ L 01 năm đến 01 (một) năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 12-6-2022.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng:
. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo được nộp trong hạn luật định, có hình thức và nội dung đúng theo quy định của pháp luật, nên đủ điều kiện xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
. Đối với bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, do không có kháng cáo, nội dung kháng cáo của bị cáo không liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của những người này, nên Tòa án không triệu tập những người này đến phiên tòa phúc thẩm.
. Về nội dung:
. Về kháng cáo của bị cáo, xét thấy:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Bùi Văn Vũ L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo L 01 năm 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, hành vi của bị cáo đã thực hiện.
Tuy nhiên, theo biên bản tòa sơ thẩm thể hiện (tại bút lục từ 265A-265D) thì bị hại có xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nhưng cấp sơ thẩm không đánh giá và áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 bộ luật Hình sự là có thiếu sót.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, bị cáo thừa nhận do cần nạp tiền để chơi game, bị cáo có ý định chiếm đoạt tiền của bị hại nên giả vờ nhờ bị hại chuyển tiền vào tài khoản, bị cáo sẽ trả lại tiền mặt, nhưng sau đó bị cáo lên xe tẩu thoát, vì thực tế bị cáo không có mang theo đủ tiền trả để đưa cho bị hại. Đây là tình tiết mới về giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đước quy định tại tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do đó hội đồng xét xử phúc thẩm có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm số 29/2022/HSST ngày 18 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh An Giang.
. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
. Đối với các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 29/2022/HSST ngày 18 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của y ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn Vũ L; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2022/HSST ngày 18 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh An Giang.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51và Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Vũ L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bùi Văn Vũ L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 12-6-2022.
2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Bùi Văn Vũ L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2022/HSST ngày 18 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo;/ - TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh; - VKSND tỉnh An Giang; - VKSND huyện TT; - TAND huyện TT; - Công an huyện TT; - Chi cục THADS huyện TT; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh AG (PV06); - Sở Tư pháp tỉnh AG; - Phòng KTNV & THAHS TAND tỉnh; - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng, Tòa Hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Sơn |