vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Quyền T được ly hôn với anh Nguyễn Minh N. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị Đình Đ, sinh ngày 28/3/2009 và Nguyễn Thị Chúc L, sinh ngày 24/7/2011 cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Quyền T ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Nguyễn Minh N"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN MINH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05/4/2023
“V/v ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Văn Bảnh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Việt Hồng

Ông Nguyễn Tấn Để

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Ý - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 175/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2022 về "ly hôn, nuôi con chung".

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Quyền T, sinh năm 1990

Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh N, sinh năm 1988

Địa chỉ: ấp N, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Quyền T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Minh N tự tìm hiểu nhau, sau đó tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2012. Vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh chị không hòa hợp nhau, suy nghĩ khác nhau và thường hay cự cãi. Anh N có quan hệ với người phụ nữ khác, chị đã cho nhiều cơ hội hàn gắn nhưng anh N không thay đổi. Gia đình hai bên cũng khuyên nhiều lần nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn trầm trọng kể từ thời điểm tháng 4/2022 đến nay, anh N sống với người phụ nữ khác, chị và anh N viết đơn thỏa thuận ly hôn. Sau đó, có nộp đơn ra Tòa án được Hòa giải viên động viên nhưng không có kết quả, hiện nay anh N lại tiếp tục sống cùng người phụ nữ khác. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục sống chung nên chị xin ly hôn với anh N để mỗi người có cuộc sống riêng.

Về con chung: Chị và anh N có 02 người con chung là Nguyễn Thị Đình Đ, sinh ngày 28/3/2009 và Nguyễn Thị Chúc L, sinh ngày 24/7/2011 (đang sống với chị và có nguyện vọng sống với chị). Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về nợ chung: Chị và anh N không có nợ chung ai, không phát sinh tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Chị cam kết ly hôn không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người khác.

Về tài sản chung: Chị xác định chị và anh N không phát sinh tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Do không có điều kiện đến Tòa án nên chị xin vắng mặt.

* Bị đơn anh Nguyễn Minh N trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị T về thời gian kết hôn, thời gian ly thân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Anh và chị T phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh chị không hòa hợp nhau, suy nghĩ khác nhau và thường hay cự cãi, hiện nay không khắc phục được, không hàn gắn được. Nay anh đồng ý ly hôn với chị T để mỗi người có cuộc sống riêng.

Về con chung: Anh thống nhất để hai người con chung là Nguyễn Thị Đình Đ, sinh ngày 28/3/2009 và Nguyễn Thị Chúc L, sinh ngày 24/7/2011 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không phát sinh tranh chấp, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Anh cam kết ly hôn không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người khác.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa có ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Về hướng giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, tiếp tục giao con cho chị T nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị T.

[2] Về quan hệ hôn nhân, chị T và anh N chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2012 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Nguyên nhân dẫn đến ly hôn, anh chị cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, không hòa hợp nhau về suy nghĩ, tính cách, thường hay cãi nhau. Gia đình hai bên cũng khuyên nhiều lần nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn trầm trọng kể từ thời điểm tháng 4/2022 và anh chị ly thân, hiện nay không khắc phục được, không hàn gắn được. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình chung sống với nhau chị T và anh N có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, đã được Ban lãnh đạo ấp, Hòa giải viên động viên nhiều lần nhưng không khắc phục được.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh N không đảm bảo theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tình nghĩa vợ chồng, Hội đồng xét xử có căn cứ để cho rằng hôn nhân giữa anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hơn nữa, anh chị đã sống ly thân thời gian dài nhưng không khắc phục được mâu thuẫn để vợ chồng tiếp tục chung sống nên không có khả năng đoàn tụ. Do đó, trong thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận ý kiến đề xuất của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T với anh N.

[4] Về con chung, chị T và anh N có 02 người con chung là Nguyễn Thị Đình Đ, sinh ngày 28/3/2009 và Nguyễn Thị Chúc L, sinh ngày 24/7/2011, đang sống với chị T và có nguyện vọng sống với chị T. Khi ly hôn, anh chị thống nhất chị T được trực tiếp nuôi con. Xét thấy, chị T có đủ điều kiện nuôi con, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của con nên Hội đồng xét xử chấp nhận để chị T được tiếp tục nuôi dưỡng con. Anh N có quyền, nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở. Trường hợp chị T vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện nuôi con thì anh N có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về cấp dưỡng, không ai yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung, chị T và anh N xác định không phát sinh tranh chấp, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí, nguyên đơn chị T phải chịu án phí xin ly hôn theo quy định là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 9, Điều 19, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Quyền T được ly hôn với anh Nguyễn Minh N.

2. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị Đình Đ, sinh ngày 28/3/2009 và Nguyễn Thị Chúc L, sinh ngày 24/7/2011 cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh N có quyền, nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở. Trường hợp chị T vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện nuôi con thì anh N có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về cấp dưỡng, không ai yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không phát sinh tranh chấp, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị T phải chịu án phí xin ly hôn là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo lai thu số 0000943 ngày 19/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ