vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bích H.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bích H được ly hôn với anh Lê Văn T; Giấy chứng nhận kết hôn số: 44 ngày 24/3/2010 do UBND xã X, thị xã T, tỉnh An Giang cấp cho chị Nguyễn Thị Bích H với anh Lê Văn T không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung giữa H & T"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bích H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TAN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31/3/2023
V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình, ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH ANGIANG.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hồng Thái;

2. Bà Thái Trân.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Minh Cảnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Phan Hoàng Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 443/2022/TLST-HNGĐ ngày 08/11/2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2023/QĐST/HNGĐ ngày 15/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: Ấp X, thị xã T, tỉnh An Giang; có mặt

- Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: Xã X, thị xã T, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 14/10/2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Bích H trình bày:

Về hôn nhân: Giữa chị H với anh Lê Văn T do người lớn mai mối, được cha mẹ hai bên đồng ý, hai người tổ chức lễ cưới vào năm 2008 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, thị xã T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số: 44 ngày 24/3/2010. Vợ chồng sống hạnh phúc được đến đầu năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp. Năm 2022 chị H có xin ly hôn với anh T nhưng qua động viên của Tòa án, chị H đã rút đơn khởi kiện và cho anh T cơ hội sửa sai, anh T không sửa sai. Chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, sống không có hạnh phúc. Chị H yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn T.

- Về con chung: Trong thời gian sống chung giữa chị H với anh T có 01 đứa con chung tên Lê Trọng N, sinh ngày 29/01/2010, hiện con đang sống chung với chị H, khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Anh Lê Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Giữa anh T với chị Nguyễn Thị Bích H được người lớn làm mai, hai người đồng ý, được cha mẹ hai bên đồng ý, hai người tổ chức lễ cưới vào năm 2008 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, thị xã T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số: 44 ngày 24/3/2010. Vợ chồng sống hạnh phúc được đến đầu năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do xe chị H hết xăng, chị H kêu anh T đi rước, do anh T bận việc nên không đi rước, chị H nhờ người đưa về dùm nên xảy ra chuyện và chị H bỏ về nhà cha, mẹ chị H từ tháng 4/2022 đến nay. Anh T nhận thấy vợ chồng không mâu thuẫn gì cả, anh T còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn mà yêu cầu được đoàn tụ lại.

- Về con chung: Trong thời gian sống chung giữa anh T với chị H có 01 đứa con chung tên Lê Trọng N, sinh ngày 29/01/2010, hiện con đang sống chung với chị H, nếu trường hợp ly hôn, anh T yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Toà án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải nhưng không thành.

Biên bản xác minh ngày 24/02/2023 của Hội phụ nữ xã X, thị xã T, tỉnh An Giang cung cấp về tình cảm giữa chị Nguyễn Thị Bích H với anh Lê Văn T thể hiện: Chị H và anh T cưới nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X. Trong cuộc sống vợ chồng có hạnh phúc, khoảng vài ba năm nay anh T thường hay uống rựu và vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn từ việc anh T uống rựu. Hội phụ nữ xã có tìm hiểu và động viên vợ chồng về sống lại nhưng vợ chồng vẫn bất hòa với nhau. Từ đầu năm 2022 chị H và anh T không còn sống chung với nhau, chị H bỏ về nhà cha, mẹ chị H sống, Hội phụ nữ có động viên nhưng chị H cương quyết không về đoàn tụ với anh T. Hội phụ nữ xã thấy tình cảm giữa chị H với anh T đã mâu thuẫn nghiêm trọng.

Hội đồng xét xử công bố biên bản xác minh ngày 24/02/2023 của Hội phụ nữ xã X, thị xã T, tỉnh An Gian, Quyết định đình chỉ số 134/QĐST-HNGĐ, ngày 01/8/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, chị H giữ nguyên yêu cầu.

Chị H xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác. Anh T không cung cấp thêm chứng cứ.

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong thời gian chuẩn bị xét xử. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Bích H và anh Lê Văn T có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, năm 2022 giữa chị H và anh T có phát sinh mâu thuẫn do anh T thường uống rựu dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng. Chị H và anh T đã không còn sống chung thời gian dài. Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị H và anh T có 01 con chung tên Lê Trọng N, sinh ngày 29/01/2010 đề nghị giao con cho chị H nuôi dưỡng. Công nhận sự tự nguyện của chị H và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không có, không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị Bích H khởi kiện “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” với anh Lê Văn T, sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: Xã X, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét, quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý giải quyết.

Sự vắng mặt của đương sự: Anh Lê Văn T vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bích H với anh Lê Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, thị xã T, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44 ngày 24/3/2010. Xét, hôn nhân giữa chị H với anh T là hợp pháp.

Chị H khai, quá trình chung sống chị H với anh T phát sinh mẫu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, sống không hiểu nhau, do anh T thường uống rựu và có tính ghen nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và đầu năm 2022 chị H có làm đơn ra tòa xin ly hôn, Tòa án động viên chị đã rút đơn kiện nhưng vợ chồng vẫn không đoàn tụ lại. Chị H với anh T đã không còn sống chung từ đầu năm 2022 đến nay. Tình cảm của chị H đối với anh T không còn, yêu cầu ly hôn với anh T.

Anh T cho rằng: Vợ chồng sống hạnh phúc được đến đầu năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do xe chị H hết xăng, chị H kêu anh T đi rước, do anh T bận việc nên không đi rước, chị H nhờ người đưa về dùm nên xảy ra chuyện và chị H bỏ về cha, mẹ chị H từ tháng 4/2022 đến nay. Anh T nhận thấy vợ chồng không mâu thuẫn gì cả, anh T còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn mà yêu cầu được đoàn tụ lại

Biên bản xác minh ngày 24/02/2023 của Hội phụ nữ xã X, thị xã T, tỉnh An Giang cung cấp về tình cảm giữa chị Nguyễn Thị Bích H với anh Lê Văn T thể hiện: Chị H và anh T cưới nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X. Trong cuộc sống vợ chồng có hạnh phúc, khoảng vài ba năm nay anh T thường hay uống rựu và vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn từ việc anh T uống rựu. Hội phụ nữ xã có tìm hiểu và động viên vợ chồng về sống lại nhưng vợ chồng vẫn bất hòa với nhau. Từ đầu năm 2022 chị H và anh T không còn sống chung với nhau, chị H bỏ về nhà cha, mẹ chị H sống, Hội phụ nữ có động viên nhưng chị H cương quyết không về đoàn tụ với anh T. Hội phụ nữ xã thấy tình cảm giữa chị H với anh T đã mâu thuẫn nghiêm trọng.

Quyết định số 134/QĐST-HNGĐ, ngày 01/8/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Nội dung chị Nguyễn Thị Bích H đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Lê Văn T.

Theo khoản 2 Điều 17, Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp,… và lý do chính đáng khác”;

“Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau”.

Chị H với anh T có thời gian dài không sống chung, hai người không tự hàn gắn lại được, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Giữa chị H với anh T đã sống xa cách nhau từ đầu năm 2022 đến nay.

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét, chấp nhận yêu cầu của chị H ly hôn đối với anh T.

Về con chung: Chị H với anh T, trong thời kỳ hôn nhân hai người có 01 con chung tên Lê Trọng N, sinh ngày 29/01/2010. Hiện con đang sống với chị H, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Anh T cũng yêu cầu được nuôi con.

Xét, giao cháu Lê Trọng N, sinh ngày 29/01/2010, cho chị H nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng cháu Lê Hữu Nghĩa muốn được sống với chị H.

Chị H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh T trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Bích H và anh Lê Văn T thống nhất không có, không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị H được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007201 ngày 04/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;

Anh Lê Văn T không phải chịu tiền án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bích H.

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bích H được ly hôn với anh Lê Văn T;

Giấy chứng nhận kết hôn số: 44 ngày 24/3/2010 do UBND xã X, thị xã T, tỉnh An Giang cấp cho chị Nguyễn Thị Bích H với anh Lê Văn T không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: Giao cháu Lê Trọng N, sinh ngày 29/01/2010, cho chị Nguyễn Thị Bích H nuôi dưỡng. Nguyện Vọng của cháu N muốn được sống với chị H.

Công nhận sự tự nguyện nuôi con của chị Nguyễn Thị Bích H mà không yêu cầu anh Lê Văn T cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Thị Bích H cùng gia đình (nếu có) không được cản trở anh Lê Văn T trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị H được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007201 ngày 04/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;

Anh Lê Văn T không phải chịu tiền án phí ly hôn.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án chị Nguyễn Thị Bích H có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Thời gian kháng cáo của anh Lê Văn T là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ