vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị H và anh Vũ Đình P.

Về con chung: Giao 03 cháu gồm Vũ Đỗ Phương Tr, sinh ngày 28/6/2008, Vũ Phương H, sinh ngày 15/01/2012 và Vũ Đỗ Phương L, sinh ngày 22/12/2014 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh P không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H. Chị H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở tro… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Đỗ Thị H và bị đơn Vũ Đình P"
  • Tòa quyết gì? Xử cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị H và anh Vũ Đình P.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HNGĐ - ST
Ngày 24-8-2023
V/v tranh chấp về ly hôn,
nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Ngọc Luân.

2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Quang Tất – Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2023/TLST – HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện K, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Đình P, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện K, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đỗ Thị H trình bày: Chị kết hôn với anh Vũ Đình P trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 18/9/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Khả Phong, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát, cãi chửi nhau. Mặc dù cả hai đã nhiều lần trao đổi với nhau để cùng tìm cách khắc phục mâu thuẫn nhưng không đạt kết quả. Từ đầu tháng 9/2022 chị đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng li thân nhau từ đó đến nay không còn quan tâm đến tình cảm, cuộc sống của nhau nữa. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Đình P.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng đã gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh Vũ Đình P, đồng thời nhiều lần triệu tập anh P đến trụ sở Tòa án để giải quyết về việc chị H xin ly hôn anh, nhưng anh P đều cố tình vắng mặt. Tòa án đã đến tận nhà anh P tại thôn Đ, xã P, huyện K để xác minh và được ông Vũ Đình Ph là bố đẻ anh P cung cấp: Anh Vũ Đình P và chị Đỗ Thị H được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 18/9/2007 tại Uỷ ban nhân dân xã Khả Phong, huyện Kim Bảng. Quá trình chung sống vợ chồng anh chị đã xảy ra mâu thuẫn là thực tế, theo ông được biết thì nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng anh chị là do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên anh chị hay xảy ra xô xát cãi chửi nhau, từ đầu tháng 9/2022 chị H đã mang con về nhà bố mẹ đẻ ở cùng thôn và ở hẳn cho đến nay không quay về chung sống với anh P nữa. Ông Ph khẳng định anh P đi làm ăn tự do và vẫn đi về thăm gia đình thường xuyên. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án và Giấy triệu tập của Tòa án đối với anh P, ngay sau mỗi lần nhận ông đều thông báo trực tiếp cho anh P biết. Tuy nhiên, anh P có đến Tòa án làm việc hay không thì ông không nắm được.

Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng cũng đã tiến hành làm việc với chính quyền địa phương xã Khả Phong, huyện Kim Bảng và được chính quyền địa phương cung cấp: Anh Vũ Đình P là công dân có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã P, huyện K và vẫn thường xuyên có mặt tại địa phương. Theo địa phương được biết, việc mâu thuẫn vợ chồng anh P, chị H đã xảy ra là thực tế, nguyên nhân là do anh P ham chơi và có vay nợ của một số đối tượng xã hội nhưng không có khả năng trả nợ nên phải sống ẩn dật không dám công khai xuất hiện. Từ tháng 9/2022 chị H đã về nhà bố mẹ đẻ ở cùng thôn sinh sống, anh chị li thân nhau từ đó cho đến nay. Nay địa phương đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn anh P theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị H xác định chị và anh P có 03 con chung là Vũ Đỗ Phương Tr, sinh ngày 28/6/2008, Vũ Phương H, sinh ngày 15/01/2012 và Vũ Đỗ Phương L, sinh ngày 22/12/2014, hiện nay cả ba cháu đều đang ở với với chị. Khi ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi dưỡng cả ba con và không yêu cầu anh P phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị.

Về con riêng: Chị H xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức đóng góp, công nợ, đất nông nghiệp: Chị H xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đỗ Thị H, xử cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị H và anh Vũ Đình P. Về con chung: Giao 03 cháu gồm Vũ Đỗ Phương Tr, sinh ngày 28/6/2008, Vũ Phương H, sinh ngày 15/01/2012 và Vũ Đỗ Phương L, sinh ngày 22/12/2014 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Vũ Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Vũ Đình P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lí do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Đỗ Thị H và anh Vũ Đình P là hợp pháp, anh chị đăng ký kết hôn với nhau ngày 18/9/2007 tại Uỷ ban nhân dân xã Khả Phong, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Sau ngày kết hôn anh chị chung sống hòa thuận đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống; ngoài ra còn do anh P ham chơi không tu chí làm ăn dẫn đến kinh tế gia đình sa sút, vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát, cãi chửi nhau. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết xin ly hôn anh P; còn anh P mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố tình không đến Tòa để giải quyết việc ly hôn. Theo xác minh tại địa phương và người thân của anh P thì mâu thuẫn vợ chồng chị H, anh P xảy ra là thực tế, khả năng hàn gắn tình cảm để anh chị đoàn tụ là rất khó. Như vậy chứng tỏ hôn nhân giữa chị H và anh P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, xử cho chị H được ly hôn anh P là hoàn toàn phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị H và anh P có 03 con chung là Vũ Đỗ Phương Tr, sinh ngày 28/6/2008, Vũ Phương H, sinh ngày 15/01/2012 và Vũ Đỗ Phương L, sinh ngày 22/12/2014. Hiện nay cả ba cháu đều đang ở với chị H. Xét thấy từ khi anh chị li thân nhau đến nay cả ba con đều đang ở cùng với chị H và được chị chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định, nguyện vọng của cả ba cháu đều muốn được ở với mẹ; bản thân chị H đang công tác tại Ngân hàng N nên có thu nhập ổn định, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cho chị H được quyền nuôi dưỡng cả ba cháu Tr, H và L, anh P không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo sự tự nguyện của chị H là hoàn toàn phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con riêng: Chị H xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung; tài sản riêng; công nợ; công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp: Chị H xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

1. Xử cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị H và anh Vũ Đình P.

2. Về con chung: Giao 03 cháu gồm Vũ Đỗ Phương Tr, sinh ngày 28/6/2008, Vũ Phương H, sinh ngày 15/01/2012 và Vũ Đỗ Phương L, sinh ngày 22/12/2014 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh P không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H.

Chị H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung.

3. Án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002085 ngày 05 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. (Chị H đã thi hành xong phần án phí ly hôn sơ thẩm).

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ