vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Thanh S đƣợc ly hôn với bà Huỳnh Thị Ngọc D (Giấy chứng nhận kết hôn số 74, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã An Phong, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 16/8/2012).

Về con chung: Ông Bùi Thanh S có trách nhiệm giao con chung là cháu Bùi Thị Kim Ch, sinh ngày 28/9/2011 và Bùi Gia H, sinh ngày 27/01/2016 cho bà Huỳnh Thị Ngọc D tiếp tục nuôi dƣỡng. Ông Bùi Thanh S có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng/01 con chung, tổn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Thanh S đƣợc ly hôn với bà Huỳnh Thị Ngọc D (Giấy chứng nhận kết hôn số 74, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã An Phong, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 16/8/2012).
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15-02-2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tô Văn Nhung;

Bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 525/2022/TLST– HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 256/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2023, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Ông Bùi Thanh S, sinh năm 1978; thƣờng tú: Số 549/B ấp Nhứt, xã A, huyện T, tỉnh Đ; địa chỉ liên lạc: Đƣờng số 20, khu công nghiệp Vsip 2, phƣờng V, thị xã T, tỉnh B, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc D, sinh năm 1982; thƣờng tú: Số 549/B ấp Nhứt, xã A, huyện T, tỉnh Đ; tạm trú: Số 10/29B, tổ 44, khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B, vắng mặt.

NỘI D VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Bùi Thanh S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu, ông Bùi Thanh S và bà Huỳnh Thị Ngọc D tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã An Phong, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Việc kết hôn của ông S và bà D là tự nguyện và đƣợc hai bên gia đình chấp nhận.

Sau khi kết hôn, ông S và bà D cùng nhau sinh sống ở nhiều nơi, không ổn định. Sau đó vợ chồng cùng thuê nhà trọ để sinh sống tại thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Vợ chồng sống hạnh phúc với nhau cho đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thƣờng xuyên cãi nhau, xúc phạm lẫn nhau. Vợ chồng ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên ông S yêu cầu đƣợc ly hôn với bà D.

Về con chung: Quá trình chung sống ông, bà có 02 con chung là cháu Bùi Thị Kim Ch, sinh ngày 28/9/2011 và Bùi Gia H, sinh ngày 27/01/2016. Hiện 02 con chung đang sinh sống cùng với bà D. Ông S yêu cầu sau ly hôn 02 con chung sẽ do bà D tiếp tục nuôi dƣỡng và ông có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng/con, tổng cộng 3.000.000 đồng/02 con cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Ông Bùi Thanh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn bà Huỳnh Thị Ngọc D: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu bà D có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông S nhƣng bà D không có ý kiến, đồng thời cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì. Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu bà D tham gia hòa giải vào ngày 09/12/2022 nhƣng bà D vắng mặt không có lý do, đồng thời ông S có đơn từ chối hòa giải. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải đƣợc theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu bà D tham gia phiên tòa vào ngày 16/01/2023 và ngày 15/02/2023 nhƣng bà D vẫn vắng mặt không có lý do. Nhƣ vậy, việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông S đƣợc xem xét trên cơ sở chứng cứ do ông S cung cấp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Quá trình tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đối với bị đơn đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhƣng không chấp hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã đƣợc triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 16/01/2023 và ngày 15/02/2023 nhƣng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đƣơng sự là đúng với quy định của pháp luật.

Về nội D vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã đƣợc triệu tập tham gia phiên tòa vào ngày 16/01/2023 và ngày 15/02/2023 nhƣng đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đƣơng sự.

Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Thanh S và bà Huỳnh Thị Ngọc D là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Phong, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 16/8/2012 theo giấy chứng nhận kết hôn số 74, quyển số 01 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Quá trình tố tụng, ông S xác định trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn cụ thể là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thƣờng xuyên cãi nhau, xúc phạm lẫn nhau. Quá trình tố tụng, Tòa án triệu tập bà D đến Tòa án để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông S và cung cấp chứng cứ liên quan đến vụ án nhƣng bà D không đến. Điều này chứng tỏ bản thân bà D cũng không muốn vợ chồng có cơ hội để đoàn tụ với nhau, còn ông S xác định không còn tình cảm với bà D. Đồng thời, vợ chồng ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nhƣ vậy, tình trạng hôn nhân giữa ông S và bà D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Vì vậy, ông S yêu cầu ly hôn là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống ông, bà có 02 con chung là cháu Bùi Thị Kim Ch, sinh ngày 28/9/2011 và Bùi Gia H, sinh ngày 27/01/2016. Các con chung đang sống cùng với bà D. Việc giao con cho ai nuôi phải bảo đảm quyền lợi của con chƣa thành niên. Xét thấy, trong suốt quá trình tố tụng bà D không có ý kiến thể hiện nguyện vọng mong muốn nuôi con chung hay không nhƣng trong khoảng thời gian hai vợ chồng không sống chung với nhau thì các con chung do bà D trực tiếp nuôi dƣỡng, để tránh làm xáo trộn cuộc sống của các con chung, cần tiếp tục giao các con chung cho bà D trực tiếp nuôi dƣỡng. Do đó, ông S yêu cầu bà D trực tiếp nuôi các con chung là phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dƣỡng: Ông Bùi Thanh S tự nguyện cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng/con chung, tổng cộng 3.000.000 đồng/02 con chung cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, đây là sự tự nguyện của ông S nên cần ghi nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Ông Bùi Thanh S không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích trên có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Bùi Thanh S phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dƣỡng nuôi con theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a, khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Thanh S đƣợc ly hôn với bà Huỳnh Thị Ngọc D (Giấy chứng nhận kết hôn số 74, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã An Phong, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 16/8/2012).

2. Về con chung: Ông Bùi Thanh S có trách nhiệm giao con chung là cháu Bùi Thị Kim Ch, sinh ngày 28/9/2011 và Bùi Gia H, sinh ngày 27/01/2016 cho bà Huỳnh Thị Ngọc D tiếp tục nuôi dƣỡng. Ông Bùi Thanh S có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng/01 con chung, tổng cộng 3.000.000 (ba triệu) đồng/02 con chung. Thời hạn cấp dƣỡng kể từ khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Bùi Thị Kim Ch và Bùi Gia H đủ 18 tuổi.

Sau ly hôn, ông Bùi Thanh S có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con. Bà Huỳnh Thị Ngọc D không có quyền cản trở ông Bùi Thanh S thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

Kể từ ngày bà Huỳnh Thị Ngọc D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Bùi Thanh S không thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nêu trên thì ông Bùi Thanh S còn phải thanh toán cho bà Huỳnh Thị Ngọc D tiền lãi theo mức lãi suất qui định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Ông Bùi Thanh S không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Bùi Thanh S phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dƣỡng nuôi con, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 000660 ngày 19/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Ông Bùi Thanh S còn phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ