vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xét xử vụ án vắng anh Nguyễn Ánh H.

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Ánh H. Về quan hệ con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Ánh P sinh ngày 06/12/2010 và Nguyễn Gia H sinh ngày 20/02/2019 cho chị Nguyễn Thị Hà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Anh Nguyễn Ánh H không phải cấp dưỡng nuôi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H xin ly hôn anh Nguyễn A"
  • Tòa quyết gì? Xét xử vụ án vắng anh Nguyễn Ánh H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BA ĐỒN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 8 - 2023
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thắng và bà Trần Thị Ngọc Lan.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

Ngày 10 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023 về việc "Tranh chấp ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:Chị Nguyễn Thị H - sinh năm 1986.

Nơi cư trú: Thôn Vĩnh Phước Đ, xã Quảng L, thị xã Ba Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ánh H - sinh năm 1981.

Nơi cư trú:Thôn Vĩnh Phước Đ, xã Quảng L, thị xã Ba Đ, tỉnh Quảng Bình. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Ánh H có quá trình tìm hiểu và đi đến kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Quảng L, thị xã Đồn, tỉnh Quảng Bình ngày 27/2/2009. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng không thật sự hiểu nhau, mỗi người một cách sống không thể dung hòa. Vợ chồng ít khi nói chuyện với nhau và không quan tâm ý kiến của người còn lại. Chồng chị thường đi làm xa, vài năm chỉ về thăm nhà một lần. Chị nhận thấy mâu thuẩn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Ánh H.

Về con chung: Qúa trình chung sống vợ chồng chị có 2 con chung là Nguyễn Ánh P sinh ngày 06/12/2010 và Nguyễn Gia H sinh ngày 20/02/2019 hiện nay đang ở với chị. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 2 con và không cần anh Hai cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có nên chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và Đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Ánh H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 27/2/2009 tại Uỷ ban nhân dân xã Quảng L, thị xã Đồn, tỉnh Quảng Bình. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu nhưng dần dần phát sinh mâu thuẫn, do tính tình không hợp nhau, không hiểu nhau, hay xảy ra cải vã, mỗi người một cách sống, cuộc sống chung không thể tiếp tục. Vợ chồng đã sống ly thân đã khá lâu, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Hà làm đơn ly hôn thì anh đồng ý ly hôn và chấp nhận mọi phán quyết của Tòa án, đồng thời anh xin được xét xử ly hôn vắng mặt do tính chất công việc ở xa không thể đến tham gia phiên tòa được.

Về con chung: Qúa trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Ánh Phong sinh ngày 06/12/2010 và Nguyễn Gia H sinh ngày 20/02/2019. Sau khi ly hôn anh Hai đồng ý giao 02 con cho chị H chăm sóc nuôi dưỡng và không cấp dưỡng cho hai con vì chị Hà có đủ điều kiện và không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: không có nên anh Nguyễn Ánh Hai không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 28/4/2023 Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn đã thụ lý vụ án về việc “ Tranh chấp ly hôn” theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hà. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng thủ tục pháp luật quy định. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng bao gồm Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh Nguyễn Ánh H trình bày vẫn giữ nguyên quan điểm đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị H có đơn xin yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Ánh H, đây là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn anh Nguyễn Ánh H có đăng ký cư trú tại Thôn Vĩnh Phước Đông, xã Quảng Lộc, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình; căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

- Về sự vắng mặt của đương sự: anh Nguyễn Ánh H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Hai.

Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Ánh H yêu nhau tự nguyện đăng ký kết hôn 27/2/2009 tại Uỷ ban nhân dân xã Quảng Lộc, thị xã Đồn, tỉnh Quảng Bình là hôn nhân hợp pháp. Sau khi lấy nhau vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân chính là do tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, không cùng quan điểm sống, anh Hai thường đi làm ăn xa. Vợ chồng sống ly thân đã lâu, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai. Chị Hà làm đơn xin ly hôn thì anh Hai cũng đồng ý. Xét trình bày của các bên đương sự, Hội đồng xét xử thấy rằng tình cảm vợ chồng đã mâu thuẩn trầm trọng, cuộc chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hà và anh Hai là có căn cứ và phù hợp với Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Chị Hà và anh Hai đều xác định vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Ánh Phong sinh ngày 06/12/2010 và Nguyễn Gia Huy sinh ngày 20/02/2019; Sau khi ly hôn chị Hà có nguyện được tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh Hai đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con vì chị có đủ khả năng và điều kiện. Do vậy, cần giao các con Nguyễn Ánh Phong và Nguyễn Gia Huy cho chị Hà tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81,82,83 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh, chị đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hà phải chịu nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Xét xử vụ án vắng anh Nguyễn Ánh H.

2. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Ánh H.

3. Về quan hệ con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Ánh P sinh ngày 06/12/2010 và Nguyễn Gia H sinh ngày 20/02/2019 cho chị Nguyễn Thị Hà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Anh Nguyễn Ánh H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn anh H có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

4. Về quan hệ tài sản: Không xem xét.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003578 ngày 28 tháng 4 năm 2023. (Chị Nguyễn Thị Hà đã nộp đủ tiền án phí).

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/8/2023), bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ