vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 16/01/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

153, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị L.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị L ly hôn anh Chang Chien Chun M. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đào Thị L - Chang Chien Chun M"
  • Tòa quyết gì? 153, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_______________
Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16/01/2023
V/v “ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên.

Bà Dương Thị Kim Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 61/2022/TLST-HNGĐ ngày 21/3/2022, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 351/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 241/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2022, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Đào Thị L, sinh năm 1987.

ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã K, huyện G, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt, đề nghị xét xử vắng mặt.

Người được chị L ủy quyền giao, nhận văn bản tố tụng: Ông Đào Xuân T, sinh năm 1959. ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu 5, thị trấn S, huyện G1, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt, đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Chang Chien Chun M, sinh ngày 17/11/1975.

Hộ chiếu số xxxxxxxxx, Cục Quản lý Xuất nhập cảnh cấp ngày 11/02/2020.

Địa chỉ: Số 12, phố L1, tổ 17, phường P, khu T, thành phố H, Đài Loan. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn chị Đào Thị L trình bày: Chị và anh Chang Chien Chun M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại

1

Uỷ ban nhân dân huyện G, tỉnh Hải Dương vào ngày 06/3/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau tại gia đình chị được một thời gian ngắn thì anh Chang Chien Chun M trở về Đài Loan, từ khi về Đài Loan anh không trở lại Việt Nam, anh có liên lạc bảo chị sang Đài Loan đoàn tụ cùng anh nhưng do dịch bệnh Covid nên chị không sang được. Từ đó, vợ chồng sống xa cách mỗi người một nơi, anh ghen tuông vô cớ, nghi ngờ và xúc phạm khiến cho cuộc sống của chị căng thẳng mệt mỏi nên chị đã chặn facebook không cho anh liên lạc. Vợ chồng sống ly thân từ lâu, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Chang Chien Chun M.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung, không nợ ai cũng như không ai nợ vợ chồng nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, chị L ủy quyền cho bố đẻ là ông Đào Xuân T thay chị giao nhận các tài liệu tại Tòa án. Sau khi nhận được các tài liệu, ông Thu đã thông báo cho chị L biết, chị L vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

Tại phiên tòa, chị Đào Thị L vắng mặt và có quan điểm đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình. Anh Chang Chien Chun M vắng mặt lần hai không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện mâu thuẫn giữa chị Đào Thị L và anh Chang Chien Chun M đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 153 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Đào Thị L được ly hôn anh Chang Chien Chun M. Về con chung, tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết. Chị Đào Thị L phải chịu án phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án chị Đào Thị L cung cấp địa chỉ của anh Chang Chien Chun M tại Số 12, phố L1, tổ 17, phường P, khu T, thành phố H, Đài Loan là địa chỉ trước khi về Việt Nam kết hôn, ngoài địa chỉ trên chị L không cung cấp được địa chỉ nào khác. Tòa án đã gửi hồ sơ ủy thác tư pháp tới Bộ Tư pháp để thực hiện ủy thác theo quy định của pháp luật. Ngày 02

2

tháng 6 năm 2022, Bộ Tư pháp có Công văn số 1677/CH-BTP thể hiện Bộ tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã gửi hồ sơ ủy thác tới Bộ Tư pháp Lãnh thổ Đài Loan để thực hiện ủy thác đối với anh Chang Chien Chun M. Ngày 04/10/2022, Bộ Tư pháp có công văn số 2577/BTP-PLQT thể hiện Bộ tư pháp nhận được Văn bản số 1110059939 ngày 26/8/2022 của Bộ tư pháp Lãnh thổ Đài Loan thông báo kết quả thực hiện ủy thác tư pháp đối với anh Chang Chien Chun M. Theo đó cơ quan có thẩm quyền của Lãnh thổ Đài Loan không thực hiện được ủy thác tư pháp do địa chỉ không chính xác. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã tiến hành thông báo các văn bản của Tòa án trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương và cổng thông tin điện tử của Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc. Tuy nhiên hết thời hạn 1 tháng anh Chang Chien Chun M vẫn không có văn bản trình bày ý kiến. Quá trình giải quyết vụ án, chị Đào Thị L có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm c khoản 6 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị Đào Thị L và anh Chang Chien Chun M.

. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị L và anh Chang Chien Chun M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân huyện G, tỉnh Hải Dương ngày 06/3/2020 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì anh Chang Chien Chun M trở về Đài Loan sinh sống, từ đó anh không quay lại Việt Nam, do dịch bệnh Covid chị cũng không sang đoàn tụ cùng anh được. Vợ chồng sống xa cách mỗi người một nơi, anh nghi ngờ, xúc phạm khiến chị căng thẳng mệt mỏi nên chị đã chặn facebook không cho anh liên lạc. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 3/2020 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Chang Chien Chun M. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị Đào Thị L và anh Chang Chien Chun M đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, xử cho chị được ly hôn anh Chang Chien Chun M là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung, tài sản chung: Chị L xác định vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung nên không đề nghị, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trường hợp anh Chang Chien Chun M có yêu cầu giải quyết về tài sản chung (nếu có căn cứ) thì có quyền làm đơn khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để xem xét giải quyết bằng vụ án khác.

. Về án phí, lệ phí: Chị Đào Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân gia đình và lệ phí ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 3 Điều

3

153, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị L ly hôn anh Chang Chien Chun M.

2. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.

3. Về án phí: Chị Đào Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình), được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0000005 ngày 18/3/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.

4. Về lệ phí ủy thác tư pháp: Chị Đào Thị L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) lệ phí ủy thác tư pháp, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0000053 ngày 18/4/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Đào Thị L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Anh Chang Chien Chun M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ