- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Sam - Mùi"
- Tòa quyết gì? 1- Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Lò Thị S được ly hôn anh Đặng Văn M.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST Ngày 07/8/2023 V/v xin ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hạnh và bà Lường Thu Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Thanh Thúy - Thư ký Tòa án TAND huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2023, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 40/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2023 về việc xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lò Thị S, sinh năm 1991 (có mặt).
Địa chỉ: Xóm B, xã PG, huyện VN, tỉnh TN.
Dân tộc: Khơ Mú; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng.
Bị đơn: Anh Đặng Văn M, sinh năm 1991 (vắng mặt lần 2 không có lý do).
Địa chỉ: Xóm B, xã PG, huyện VN, tỉnh TN.
Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn chị Lò Thị S trình bày: Chị và anh Đặng Văn M kết hôn năm 2015, đăng ký kết hôn tại UBND xã PK, huyện TU, tỉnh LC. Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là Đặng Anh T, sinh ngày 30/9/2015. Tài sản chung và nợ chung: Không có.
Về nguyên nhân xin ly hôn chị S trình bày: Sau khi cưới vợ chồng sống chung với bố mẹ chồng. Quá trình chung sống ban đầu hạnh phúc không có mâu thuẫn gì, nhưng từ cuối năm năm 2019 anh M ra ngoài làm ăn không rõ lý do vì sao không còn quan tâm chăm sóc đến gia đình vợ con nữa, cũng không phụ giúp tiền cho chị nuôi con. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2020 đến nay, chị đi thuê nhà kiếm tiền nuôi con và đã cho con về bên ngoại học hành ổn định. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M. Về con chung: Chị đề nghị được nuôi con chung, không yêu cầu anh M đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Đặng Văn M: Sau khi nhận được đơn khởi kiện của chị S quá trình giải quyết vụ án Toà án nhân dân huyện Võ Nhai đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh M không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Ngày 14/6/2023, Toà án nhân dân huyện Võ Nhai đã tiến hành xác minh tại UBND xã PG, Công an xã PG, ban xóm B và gia đình anh M xác định được các giấy triệu tập của Toà án đã giao nhận hợp lệ cho anh M, gia đình anh M nhận và đã thông báo cho anh M biết, hiện nay anh M vẫn có hộ khẩu thường trú tại địa phương chưa cắt chuyển hộ khẩu tạm vắng đi đâu. Do anh M không có mặt tại Tòa án nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử công khai.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng: Toà án thụ lý vụ án và tiến hành các thủ tục tố tụng trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà phù hợp với các quy định của pháp luật, nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Việc giải quyết vụ án: Xét thấy chị S và anh M kết hôn năm 2015 đăng ký kết hôn tại UBND xã PK, huyện TU, tỉnh LC nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị S cho chị S được ly hôn anh Đặng Văn M. Về con chung giao cho chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Đặng Anh T, sinh ngày 30/9/2015. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh M do chị S không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết. Án phí chị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Đây là vụ án xin ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án bị đơn là anh Đặng Văn M cư trú tại Xóm B, xã PG, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về sự vắng mặt của bị đơn: Ngày 20/4/2023 Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của chị S về việc xin ly hôn đối với anh M. Quá trình giải quyết vụ án anh M không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Ngày 14/6/2023, Toà án nhân dân huyện Võ Nhai đã tiến hành xác minh tại UBND xã PG, Công an xã PG, Ban xóm B và gia đình anh M xác định được các giấy triệu tập của Toà án đã giao nhận hợp lệ cho anh M, gia đình anh M nhận và đã thông báo cho anh M biết, hiện nay anh M vẫn có hộ khẩu thường trú tại địa phương chưa cắt chuyển hộ khẩu tạm vắng đi đâu. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
. Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Lò Thị S và anh Đặng Văn M là cuộc hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp. Bởi lẽ trước khi kết hôn hai bên được tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã PK, huyện TU, tỉnh LC. Quá trình chung sống ban đầu hạnh phúc không có mâu thuẫn gì, từ cuối năm năm 2019 anh M ra ngoài làm ăn không còn quan tâm chăm sóc đến gia đình vợ con nữa, cũng không phụ giúp chị S nuôi con, đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị S và anh M không còn, tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị S xin được ly hôn anh M.
. Về con chung: Quá trình điều tra giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay vắng mặt anh M. Cháu Đặng Anh T, sinh ngày 30/9/2015 hiện nay đang sống cùng chị S và có đơn đề nghị được sống cùng chị S. Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T cần giao cháu T cho chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.
. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh M do chị S không yêu cầu.
. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về án phí: Chị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Xét ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên chấp nhận.
Bởi lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1- Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Lò Thị S được ly hôn anh Đặng Văn M.
2- Về con chung: Giao cháu Đặng Anh T, sinh ngày 30/9/2015 cho chị Lò Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu T đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Sau khi ly hôn, anh M có quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung.
3- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đặng Văn M do chị Lò Thị S không yêu cầu.
4- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5- Về án phí: Buộc chị Lò Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền chị S đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Võ Nhai theo biên lai số 0003498 ngày 20/4/2023.
(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).
6- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - VKS huyện Võ Nhai; - THADS huyện Võ Nhai; - UBND xã PG; - UBND xã PK, huyện TU, tỉnh LC; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Hƣơng |