vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUY N V TH Y
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 4 - 2023
V/v tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CH NGHĨA VI T NAM

TÒA N NH N D N HUY N V TH Y, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Quyền Trân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tua

2. Bà Trần Thị Bé Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hol – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

- i di n i n ki m s t nh n d n huy n Th y t nh Hậu iang tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Mỹ Phương- Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 210/2022/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 10 năm 2022 về “tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1977; địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện V, tỉnh H (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện V, tỉnh H (có mặt).

NỘI DUNG VỤ N:

Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Bà với ông Huỳnh Văn N tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, chồng ham mê cờ bạc, không chăm lo gia đình. Ông bà đã ly thân từ tháng 05/2022 cho đến nay. Do đó, bà Lê Thị T yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn N.

Về con chung: Bà với ông Huỳnh Văn N có hai người con chung là Huỳnh Thị D sinh ngày 26/6/1999 và Huỳnh Thủy T sinh ngày 29/01/2003. Cả hai người con chung đều đã thành niên, có khả tự lập nên bà không yêu cầu giải quyết về con chung.

Về tài sản chung tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung không có.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Huỳnh Văn N trình bày:

Về hôn nhân: Ông với bà Lê Thị T tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn, chủ yếu là những chuyện nhỏ nhặt trong gia đình. Ông bà đã ly thân từ tháng 05/2022 cho đến nay. Ông xác định còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn, trường hợp bà Lê Thị T kiên quyết ly hôn thì ông cũng chấp nhận nhưng ông không thuận tình ly hôn.

Về con chung: Ông với bà Lê Thị T có hai người con chung là Huỳnh Thị D sinh ngày 26/6/1999 và Huỳnh Thủy T sinh ngày 29/01/2003. Cả hai người con chung đều đã thành niên, có khả tự lập nên ông không yêu cầu giải quyết về con chung.

Về tài sản chung tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung không có.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của đương sự là đúng pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn, về con chung đã thành niên nên không xem xét, về tài sản chung không yêu cầu nên không xem xét, về nợ chung không có nên không xem xét, về án phí hôn nhân gia đình và sơ thẩm buộc nguyên đơn chịu theo quy định pháp luật. Về yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm là không có.

Các tình tiết mà các bên đã thống nhất: Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định; Có 02 người con chung đều đã thành niên, không yêu cầu giải quyết; Tài sản chung không yêu cầu, nợ chung không có.

Các tình tiết mà các bên không thống nhất: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn; bị đơn không đồng ý ly hôn.

NHẬN Đ NH C A TÒA N:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Áp dụng pháp luật về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bị đơn. Bị đơn có địa chỉ tại Ấp N, xã T, huyện V, tỉnh H. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp thuộc trường hợp “Tranh chấp về ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

[2] Áp dụng pháp luật về nội dung: Vào ngày 13/3/2018, nguyên đơn và bị đơn xác lập quan hệ hôn nhân (đăng ký kết hôn) nên áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết tranh chấp.

[3] Về hôn nhân: Nguyên đơn bà Lê Thị T với bị đơn ông Huỳnh Văn N đăng ký kết hôn vào ngày 13/3/2018 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh H. Thời điểm ông bà đăng ký kết hôn, thì ông bà đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân giữa ông bà được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên ông bà đã ly thân từ tháng 05/2022 cho đến nay. Tại phiên tòa, bà Lê Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, phía ông Huỳnh Văn N không đồng ý ly hôn nhưng không có giải pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, từ khi xảy ra mâu thuẫn cho đến nay là một thời gian dài, các bên không thể khắc phục mâu thuẫn để xây dựng hạnh phúc gia đình. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị T là có căn cứ.

[4] Về con chung: Bà Lê Thị T với ông Huỳnh Văn N có hai người con chung là Huỳnh Thị D sinh ngày 26/6/1999 và Huỳnh Thủy T sinh ngày 29/01/2003. Cả hai người con chung đều đã thành niên, có khả tự lập, các đương sự không yêu cầu giải quyết về con chung. Do đó, Tòa án không xem xét giải quyết về con chung.

[5] Về tài sản chung tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung không có.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.

Do đó, ý kiến của Kiểm sát viên đề xuất hướng giải quyết vụ án là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ: Điều 5, Điều 6, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 91, 92, 147, 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 8, 9, 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Về hôn nhân: Cho bà Lê Thị T với ông Huỳnh Văn N được ly hôn.

Về con chung đã thành niên, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Về nợ chung không có.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002984, ngày 11/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang thành án phí, nguyên đơn không phải nộp thêm.

Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ