vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Nguyễn Thị H và anh Võ Thanh H1 là quan hệ vợ chồng. Về con chung: Giao cháu Võ Thị Thùy D, sinh ngày 15/5/2014 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Võ Thanh H1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY ĐỨC
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST
Ngày 20 – 12 – 2023
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Triệu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Ngọc Khoa và ông Phạm Thiên Viết.

- Thư ký phiên tòa: Bà H’Ra Chen – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Cảnh – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuy Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 189/2023/TLST-HNGĐ ngày 09/11/2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự.

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983 – có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Bon B, xã Q, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông.

- Bị đơn: Anh Võ Thanh H1, sinh năm 1979 – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Bon B, xã Q, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh H1 chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2004 đến nay không đăng ký kết hôn. Việc chung sống với nhau là do hai bên hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, việc không đăng ký kết hôn là do không am hiểu pháp luật. Lý do chị làm đơn đề nghị không công nhận vợ chồng với anh H1 là do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau, anh H1 không lo làm ăn thường xuyên rượu chè, đánh đập, chửi bới vợ con, vợ chồng sống không tôn trọng và không quan tâm lẫn nhau. Chị H không còn tình cảm với anh H1 nên yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức giải quyết như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị H và anh H1 là vợ chồng.

Về con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung là Võ Thành L, sinh ngày 17/10/2004 (đã chết) và Võ Thị Thùy D, sinh ngày 15/5/2014. Chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu D đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại các văn bản trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Võ Thanh H1 trình bày: Anh H1 thừa nhận lời trình bày của chị H về quá trình chung sống của anh với chị H là đúng. Anh và chị H chung sống với nhau là hoàn toàn tự nguyện từ năm 2004 đến nay không đăng ký kết hôn, quá trình chung sống không được hạnh phúc, thường xảy ra mâu thuẫn do hai người bất đồng quan điểm, anh H1 cũng không còn tình cảm với chị H, vì vậy anh H1 yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, không công nhận anh và chị H là vợ chồng.

Về con chung: Anh H1 và chị H có 02 con chung là Võ Thành L, sinh ngày 17/10/2004 (đã chết) và Võ Thị Thùy D, sinh ngày 15/5/2014. Anh H1 đồng ý giao cháu D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và về nội dung vụ án phát biểu như sau:

Qua nghiên cứu đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng thì thấy: Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; việc thụ lý, giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong vụ án: Chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Qua các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147 và Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không công nhận chị Nguyễn Thị H và anh Võ Thanh H1 là vợ chồng.

Về con chung: Giao cháu Võ Thị Thùy D, sinh ngày 15/5/2014 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H khởi kiện anh Võ Thanh H1 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại Bon B, xã Q, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông. Vì vậy, tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Tuy Đức theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Võ Thanh H1 chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2004, tuy đủ điều kiện để kết hôn nhưng chị H và anh H1 không đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống không có hạnh phúc do bất đồng quan điểm, anh H1 và chị H đều sống không có trách nhiệm với nhau và với gia đình. Tình cảm dành cho nhau không còn, do đó chị H và anh H1 đều thống nhất yêu cầu Tòa án không công nhận là vợ chồng. Xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị H và anh H1 không hợp pháp và đều thống nhất quan điểm yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận là vợ chồng, do đó Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, không công nhận chị H và anh H1 là vợ chồng.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Võ Thị Thùy D, sinh ngày 15/5/2014 đến tuổi trưởng thành, phù hợp với nguyện vọng của cháu D và phù hợp với quan điểm của anh H1, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị H về việc nuôi con chung.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức về nội dung vụ án có là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Về án phí: Chị H phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, Điều 147, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng khoản 1 Điều 11, Điều 87 Luật hôn nhân và gia đình 2000; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b Điều 3 Nghị quyết số 35/2000/UBTVQH10 ngày 09/6/2000; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Nguyễn Thị H và anh Võ Thanh H1 là quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Giao cháu Võ Thị Thùy D, sinh ngày 15/5/2014 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành.

Anh Võ Thanh H1 có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng, không ai có quyền ngăn cản. Nếu anh H1 lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con là chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh H1.

Chị Nguyễn Thị H và anh Võ Thanh H1 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng khi cần thiết.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Nguyễn Thị H phải chịu toàn bộ số tiền trên, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 0001176 ngày 09/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Nơi nhận:

Cỡ chữ