vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Việt T được ly hôn anh Phạm Quang H.

Về quan hệ con chung: Chị Lê Thị Việt T và anh Phạm Quang H có 02 con chung là Phạm Hương Q- sinh ngày 27/01/2021 và Phạm Quang N- sinh ngày 27/01/2021. Ly hôn: Giao cả 02 cháu Phạm Hương Q, Phạm Quang Ncho chị Lê Thị Việt T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu tròn 18 tuổi. Ghi nhận sự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRinh - Hiển"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Việt T được ly hôn anh Phạm Quang H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỀN HẢI
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 28 - 3 - 2023
V/v: tranh chấp Hôn nhân và gia
đình (Trinh - Hiển)

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Lợi

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Văn Quảng

2. Ông Trần Văn Hiểu

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phƣơng Thảo - Thư ký TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

Trong ngày 28 tháng 3 năm 2023 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2023/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp "Hôn nhân và gia đình". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXX-ST ngày 15/3/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Việt T- sinh năm 1995

(Có mặt)

Địa chỉ: thôn C.T, xã Đ.H, huyê ̣n Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

Bị đơn: Anh Phạm Quang H- sinh năm 1989

(Có mặt)

Địa chỉ: thôn M.C, xã Đ.M, huyê ̣n Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị Việt T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Quang H kết hôn trên cơ sở tự nguyện , cướ i có đăng ký kết hôn ta ̣i UBND xa Đ.M, huyê ̣̃

n Tiền Hải , tỉnh Thái Bình ngày 17/12/2018. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau dẫn đến thiếu tôn trọng nhau, nhiều khi anh H tìm lý do để đánh đập chị. Từ lúc 02 con được 06 tháng tuổi anh chị đã sống ly thân, không còn quan tâm cuộc sống của nhau. Thời gian ly thân vừa qua, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, nếu ở cùng nhau thì sẽ dẫn đến cãi lộn, chửi mắng. Do đó chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Quang H.

Về con chung: Chị và anh Phạm Quang H có 02 con chung là Phạm Hương Q- sinh ngày 27/01/2021 và Phạm Quang N- sinh ngày 27/01/2021, cả 02 cháu đang ở cùng chị tại xã Đ.H, huyện Tiền Hải. Ly hôn, chị có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc , nuôi dưỡng 02 con và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con cùng vì: chị đủ khả năng kinh tế, thời gian để chăm sóc, nuôi dậy 02 con khôn lớn, 02 con còn quá nhỏ (đều dưới 36 tháng tuổi) cần sự chăm sóc từ người mẹ. Mặt khác hai con sinh đôi nên việc tách ra nuôi dưỡng sẽ không tốt cho các cháu.

Về tài sản: Chị và anh H tự thỏa thuận giải quyết nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Phạm Quang H trình bày:

Về hôn nhân: Về thờ i gian, đi ̣a điểm và điề u kiê ̣n kết hôn như chi ̣ T trình bày. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hạnh phúc được đến khi sinh các con thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong tất cả mọi việc. Chị T quá nghe lời bố mẹ đẻ, không tôn trọng anh và gia đình anh. Sau khi đưa con về nhà ông bà ngoại chơi thì ở luôn đó và không về mặc dù anh đã nhiều lần xuống đón. Làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở lên trầm trọng. Cũng từ thời điểm chị T về nhà bố mẹ đẻ thì anh, chị đã sống ly thân. Anh xác định tình cảm giữa anh và chị T không còn, hôn nhân không có hạnh phúc vì vậy anh đồng ý ly hôn với chị Lê Thị Việt T.

Về con chung: Anh và chi ̣ Lê Thị Việt T có 02 con chung như chi ̣ trình bày ở trên . Ly hôn, anh có mong muốn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con, nếu không thể anh đề nghị Tòa án giao cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ít nhất một con. Nếu theo quy định của pháp luật mà 02 con ở với mẹ thì anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.500.000đ/02 con/1 tháng. Trường hợp anh được nuôi 02 con thì anh không đề nghị chị T phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh. Nếu chị T nuôi con thì không được ngăn cấm việc anh thăm nom, chăm sóc các cháu cũng như việc đón các cháu về nhà anh chơi vài hôm hoặc gia đình có công việc.

Về tài sản: anh và chị T tự thỏa thuận giải quyết nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trình bày của các đương sự cũng như phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa chị T, anh H là tranh chấp về ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh H đang sinh sống , làm việc và có hô ̣ khẩu thườ ng trú tại xã Đ.M, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình do đó chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình giải quyết vụ án là đúng với quy định tại Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị Việt T và anh Phạm Quang H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ.M, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình ngày 17/12/2018 đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hạnh phúc đến khi sinh con thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống , không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau dẫn đến thiếu tôn trọng nhau. Anh, chị đổ lỗi cho nhau về mâu thuẫn gia đình, chị T cho rằng anh H tìm lý do đánh chị, anh H cho rằng chị T quá nghe lời bố mẹ đẻ, thiếu tôn trọng anh và gia đình anh. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị T, anh H đã rất căng thẳng dẫn đến anh, chị đã sống ly thân nhau. Do tình cảm giữa anh, chị không còn, hôn nhân không thể hàn gắn , trên thực tế hôn nhân không còn tồn ta ̣i , mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Việt T, xử cho chi ̣ được ly hôn anh Phạm Quang H là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Lê Thị Việt T và anh Phạm Quang H có 02 con chung là Phạm Hương Q- sinh ngày 27/01/2021 và Phạm Quang Nguyên - sinh ngày 27/01/2021. Ly hôn, chị Trinh, anh Hiển đều có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con đây là nguyện vọng chính đánh của anh chị. Tuy nhiên từ khi ly thân cho đến nay các cháu đang sinh sống cùng chị T tại xã Đ.H, huyện Tiền Hải. Mặt khác các cháu hiện dưới 36 tháng tuổi cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng từ người mẹ. Cuộc sống của các cháu hiện tại đảm bảo điều kiện phát triển tốt. Vì vậy ly hôn, HĐXX giao cả 02 con Phạm Hương Q và Phạm Quang N cho chị Lê Thị Việt T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi tròn 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Phạm Quang H cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Trinh 2.500.000đ/02 con/1 tháng kể từ tháng 3/2023. Anh Hiển có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc nuôi dưỡng con chung không ai được cản trở, vấn đề thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi các bên đương sự có yêu cầu là phù hợp với quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản: Chị Lê Thị Việt T và anh Phạm Quang H tự thỏa thuâ ̣n giải quyết nên không đă ̣t ra giải quyết.

Về án phí: Chị Lê Thị Việt T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, anh Phạm Quang H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là phù hợp quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Việt T được ly hôn anh Phạm Quang H.

2. Về quan hệ con chung: Chị Lê Thị Việt T và anh Phạm Quang H có 02 con chung là Phạm Hương Q- sinh ngày 27/01/2021 và Phạm Quang N- sinh ngày 27/01/2021. Ly hôn: Giao cả 02 cháu Phạm Hương Q, Phạm Quang Ncho chị Lê Thị Việt T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu tròn 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Phạm Quang H cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T 2.500.000đ/02 con/1 tháng kể từ tháng 3/2023.

Anh H có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vấn đề thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi các bên đương sự có yêu cầu.

3. Về quan hệ tài sản: Chị Lê Thị Việt T và anh Phạm Quang H tự thỏa thuâ ̣n giải quyết nên không đă ̣t ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Việt T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển 300.000đ chị T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0002286 nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình ngày 21/02/2023 sang thi hành án phí.

Anh Phạm Quang H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Việt T , anh Phạm Quang H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ