vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim T đối với ông Nguyễn Trung N.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim T được ly hôn với ông Nguyễn Trung N. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày: 01/4/2014 cho bà Lê Thị Kim T trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi con chung đủ 18 tuổi Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim T - Nguyễn Trung N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim T đối với ông Nguyễn Trung N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦ THỪA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 3- 2023
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tuấn

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Thế Phương Nam

2. Bà Mai Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Đ i di n vi n ki m s t nhân d n hu n Th Th a tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thoa – Ki m sát viên.

Ngày 30 tháng 03 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 289/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03/02/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim T, sinh năm 1985. Địa chỉ: ấp 1, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Trung N, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp 1, xã T, huyện T, tỉnh Long An.(vắng mặt không rõ lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 25/9/2022, bản tự khai và tại phiên tòa bà Lê Thị Kim T trình bày: Do quen biết tự tìm hi u nên bà T ông N tiến đến hôn nhân có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T tỉnh Long An vào ngày 01/11/2010. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc tuy nhiên đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do ông N có quan hệ với người phụ nữ khác dẫn đến gây cãi. Bà T đã nhiều lần khuyên can nhưng ông N không sửa đổi. Hiện tại mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không th hàn gắn được nên bà T yêu cầu ly hôn với ông N.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày: 01/4/2014. Khi ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra không có yêu cầu nào khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Trung N vắng mặt nên không có lời trình bày và yêu cầu cụ th .

Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được do ông N không tham gia, Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa, nguyên đơn xin vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do

Đại diện Viện ki m sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An phát bi u: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp và đúng tư cách các đương sự, việc giải quyết vụ án đúng thời hạn quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được bà T yêu cầu ly hôn là phù hợp nên chấp nhận. Về con chung giao bà T trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày: 01/4/2014. Ông N phải cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật. Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét trong vụ án này. Về nợ chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Kim T và ông Nguyễn Trung N có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Nay bà Lê Thị Kim T yêu cầu ly hôn, ông Nguyễn Trung N đang cư trú tại ấp 1, xã T, huyện T, nên Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bà Lê Thị Kim T có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Trung N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai đ xét xử nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông bà theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim T, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T xác định giữa bà và ông N phát sinh mâu thuẫn từ năm 2013, nguyên nhân do ông N có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác dẫn tới vợ chồng thường xuyên gây cãi đánh lộn. Bà T đã khuyên can nhiều lần nhưng ông N không thay đổi. Ông bà đã sống ly thân từ tháng 05 năm 2021 cho đến nay. Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án th hiện rõ nội dung bà T yêu cầu Tòa án giải quyết đồng thời gửi kèm theo bản pho tô đơn khởi kiện có th hiện rõ nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Ông N đã được tống đạt hợp lệ các văn bản trên tuy nhiên ông không có ý kiến phản đối. Do đó nhận thấy trong thời gian chung sống giữa bà T và ông N đã xảy ra mâu thuẫn nhưng cả hai bên không tìm cách đ giải quyết mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng thường xuyên gây cãi hậu quả ông bà không còn quan tâm chăm sóc nhau. Tòa án tiến hành hòa giải cho bà T và ông N trở về đoàn tụ song ông N không tham gia. Tại phiên tòa ông N cũng vắng mặt cho thấy ông không còn thiết tha với mối quan hệ hôn nhân này. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, bà T và ông N tuy còn sống chung nhà nhưng đã không còn quan tâm chăm sóc nhau, không thực hiện đúng nghĩa vụ vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không th kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà T là phù hợp với Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung: Bà T và ông N có 01 con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày: 01/4/2014. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, Cháu Trung có nguyện vọng được sống chung với bà T, ông N không yêu cầu được nuôi con cũng không có ý kiến phản đối về việc bà T xin nuôi con chung do đó HĐXX giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật là phù hợp nên được chấp nhận. Buộc ông N cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 745.000 đồng cho tới khi con chung đủ 18 tuổi.

Tài sản chung, nợ chung: Bà T xác định không có, ông N không trình bày nên HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Tại phiên tòa lời phát bi u của Ki m sát viên là phù hợp nên HĐXX chấp nhận

Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 84 Luật Hôn nHiền và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim T đối với ông Nguyễn Trung N.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim T được ly hôn với ông Nguyễn Trung N.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày: 01/4/2014 cho bà Lê Thị Kim T trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi con chung đủ 18 tuổi

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc ông N phải cấp dưỡng nuôi con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày: 01/4/2014, mỗi tháng 745.000 đồng cho tới khi con chung đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con chung được quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con, thì một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con cũng như mức cấp dưỡng.

2. Án phí: Bà Lê Thị Kim T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002673 ngày 14/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa sang án phí. Bà Lê Thị Kim T không phải nộp thêm án phí. Ông Nguyễn Trung N phải chịu 300.000 đồng án phí về phần cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Án xử sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày k từ ngày nhận được bản án hoặc k từ ngày bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người Trí thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ