- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị H ly hôn Trần Hữu N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H xin ly hôn anh Trần Hữu N.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20/7/2023 V/v Kiện xin ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Hồng Nam;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Ngư
2. Bà Đỗ Thanh Bình
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện PL, tỉnh Thái Nguyên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lương Ngọc Tuyết- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PL, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 14/2023/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2023 về việc kiện xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1988 (có mặt)
Nơi đăng ký HKTT: Xóm G 1, xã PM, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên
2. Bị đơn: Anh Trần Hữu N, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Nơi đăng ký HKTT:Xóm G 1, xã PM, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản khai và tại phiên tòa chị Trần Thị H trình bày: Chị kết hôn với anh Trần Hữu N trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, không ai lừa dối hay cưỡng ép, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PM, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên theo đúng quy định của pháp luật vào tháng 5 năm 2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sốngvới nhau tại xóm G 1, xã PM. Thời gian đầu vợ chồng chung sống H phúc. Sau khi sinh con thì vợ chồng dần dần vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trong lối sống, quan điểm sống và thường xuyên có những lời nói xúc phạm nhau, anh N thường xuyên uống rượu và đánh đuổi vợ con. Đỉnh điểm đến năm 2020, vợ chồng mâu thuẫn gay gắt và chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh N.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Minh A sinh ngày 14/4/2019. Hiện nay cháu A đang ở với chị. Khi ly hôn chị xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện PL đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh N như: Thông báo thụ lý vụ án số 14/TB-TLVA ngày 10/02/2023; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 14/TB-TA ngày 06/4/2023 và Thông báo hòa giải lần thứ hai số 06/TB-TA ngày 08/5/2023; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/6/2023 và giấy triệu tập phiên tòa. Tuy nhiên, anh N không cung cấp lời khai và cũng không có mặt tại Tòa án nên không thể tiến hành hòa giải được. Mặc dù anh N đã nhận Thông báo thụ lý vụ án số 14/TB-TLVA ngày 10/02/2023 và giấy triệu tập nhưng anh N vắng mặt không có lý do. Anh N đi làm ăn, thỉnh thoảng có về nhà và sau đó lại đi làm tòa án đã lập biên bản không tống đạt được các văn bản tố tụng và niêm yết văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh N vẫn vắng mặt phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL, tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 51, 56 và Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H xin ly hôn anh Trần Hữu N
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn anh Trần Hữu N
Về con chung: Giao con chung tên Trần Minh A sinh ngày 14/4/2019 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh N, do chị H không yêu cầu. Anh N có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình về việc xin ly hôn, bị đơn anh Trần Hữu N có nơi cư trú tại xóm G 1, xã PM, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ các quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện PL, tỉnh Thái Nguyên.
- Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện PL đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định tại Điều 179, Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh N vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
[2.] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Trần Hữu N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PM, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên. Vì vậy, được xác định là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trong lối sống, quan điểm sống và thường xuyên có những lời nói xúc phạm nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, đới sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, chị H được ly hôn anh N là hoàn toàn phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Minh A sinh ngày 14/4/2019. Hiện nay cháu A đang sinh sống cùng với chị H và nguyên vọng của chị H là được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Bị đơn anh N thường xuyên vắng nhà, không quan tâm chăm sóc đến con chung. Xét nguyện vọng của chị H xin được nuôi con chung và điều kiện, hoàn cảnh để chăm sóc, giáo dục con chung của chị H, đồng thời để ổn định cuộc sống của con chung nên cần giao con chung tên Trần Minh A sinh ngày 14/4/2019 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị H không yêu cầu. Anh N có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung. Anh N không có lời khai nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4.] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 51, 56 và Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H xin ly hôn anh Trần Hữu N.
Tuyên xử:
.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn anh Trần Hữu N.
2. Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Trần Minh A sinh ngày 14/4/2019.
Giao con chung tên Trần Minh A sinh ngày 14/4/2019 cho chị Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh N, do chị H không yêu cầu. Anh N có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, Tòa án giải quyết
4. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003610 ngày 10/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện PL.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện PL; - Chi cục THADS huyện PL; - UBND xã/TT; - Lưu: HS. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Ngô Hồng Nam THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Ngô Hồng Nam |