vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Bùi Quốc V.

Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Bùi Quốc Đ, sinh ngày 17/01/2017 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị H không yêu cầu anh Bùi Quốc V phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Anh Bùi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị H xin ly hôn anh Bùi Quốc V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Bùi Quốc V.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NINH GIANG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20-7-2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Anh Bật;

2. Ông Phạm Huy Điệu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2023/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1997; nơi ĐKHK thường trú: Thôn .., xã H, huyện Gi, tỉnh Hải Dương; hiện trú tại: Thôn C, xã X, huyện Gi, tỉnh Hải Dương (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2, Bị đơn: Anh Bùi Quốc V, sinh năm 1997; trú tại: Thôn .., xã H, huyện Gi, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).

3. Người làm chứng

- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện Gi, tỉnh Hải Dương (vắng mặt);

- Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn .., xã H, huyện Gi, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình làm việc nguyên đơn – chị H trình bày: Chị và anh Bùi Quốc V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, được Uỷ ban nhân dân (UBND) xã H, huyện Gi tổ chức đăng ký và cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 16/8/2018. Sau khi kết hôn, hai người sống cùng gia đình anh V tại xã H, huyện Gi; cuộc sống chung giữa hai người chỉ hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh V chơi bời, không tu chí làm ăn, không quan tâm đến gia đình, vợ con, khi chị góp ý khuyên bảo thì anh V lại chửi chị. Tháng 5 năm 2019, chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống, sau đó anh V đến xin lỗi, hứa thay đổi. Do thương con nên chị đã quay về đoàn tụ gia đình, nhưng anh V không thay đổi, tiếp tục chơi bời, mang cả tài sản của gia đình đi cầm cố. Do mâu thuẫn, tháng 6 năm 2022, chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống, từ đó hai người ly thân, không gặp gỡ, quan tâm đến nhau. Chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết, hôn nhân không còn hạnh phúc nên khởi kiện xin ly hôn.

Về quan hệ con chung: Anh chị có 01 con là Bùi Quốc Đ, sinh ngày 17/01/2017, hiện chị đang nuôi dưỡng. Ly hôn, chị đề nghị Toà án giao con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng cho con. Hiện chị làm công nhân, thu nhập ổn định từ 8 đến 10 triệu đồng/tháng, được bố mẹ đẻ hỗ trợ về chỗ ở và chăm sóc con nên chị đủ điều kiện nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn - anh Bùi Quốc V: Quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập anh V đến làm việc, tham gia phiên họp, phiên tòa song anh đều vắng mặt không có lý do.

Tại lời khai của bà Nguyễn Thị V là mẹ đẻ của anh V trình bày: Về quá trình kết hôn, thời gian chung sống, nguyên nhân muâu thuẫn, con chung giữa anh V và chị H đúng như chị H trình bày. Do vợ chồng mâu thuẫn, chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống từ giữa năm 2022, còn anh V ra ngoài làm ăn tự do, thỉnh thoảng mới về nhà. Toàn bộ các giấy tờ, thông báo, triệu tập của Toà án bà đều giao hoặc thông báo cho anh V biết nhưng do anh V không muốn ly hôn nên anh không đến Toà án làm việc. Nay chị H khởi kiện xin ly hôn, bà đề nghị Toà án hoà giải để anh chị đoàn tụ, nếu hai người ly hôn mà Toà án giao cho anh V nuôi con thì gia đình bà sẽ hỗ trợ anh V trong việc trông nom, chăm sóc con.

Ông Nguyễn Văn D là bố đẻ của chị H trình bày: Quá trình kết hôn, thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn, con chung giữa anh V và chị H đúng như chị H trình bày. Ông đề nghị Toà án giải quyết cho chị H ly hôn anh V theo nguyện vọng của chị H và giao con cho chị H nuôi dưỡng, ông cam kết gia đình sẽ hỗ trợ, giúp đỡ chị về chỗ ở và trông nom, chăm sóc con.

Tại biên bản xác minh, chính quyền địa xã H cung cấp: Địa phương xã H xác định hôn nhân giữa chị H và anh V là hợp pháp, quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, hiện hai người sống ly thân, đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu xin ly hôn theo nguyện vọng của chị H và giao con cho bên nào có điều kiện tốt hơn nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi cho con.

Tại phiên Tòa: Chị H, anh V đều vắng mặt, tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt chị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh V; đề nghị Tòa án giao con cho chị nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh V phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Ngoài ra, chị không có yêu cầu, đề nghị nào khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang có quan điểm xác định việc Tòa án thụ lý, quá trình giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 21; Điều 147, các điều 227, 228, 232, 238, 262 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS); Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Bùi Quốc V; giao con Bùi Quốc Đ, sinh ngày 17/01/2017 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng; chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh V phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con; chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập anh V đến làm việc, tham gia phiên họp, phiên tòa song anh đều vắng mặt không có lý do; chị H đề nghị không tiến hành hòa giải; Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai song bị đơn - anh V vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; chị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được và xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại các điều 207, 227 và Điều 228 BLTTDS.

Chị Nguyễn Thị H và anh Bùi Quốc V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã H, huyện Gi nơi sinh sống của anh V tổ chức đăng ký và cấp Giấy chứng nhận kết hôn, việc kết hôn không vi phạm điều cấm của pháp luật nên hôn nhân giữa chị H và anh V là hợp pháp.

Giữa năm 2022, do vợ chồng mâu thuẫn chị H bỏ về sống cùng bố mẹ đẻ, anh V bỏ đi làm ăn, hai người không gặp gỡ, quan tâm đến nhau. HĐXX thấy rằng, tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau..Như vậy, việc anh chị không chung sống cùng nhau, không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của đương sự, HĐXX căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị H ly hôn anh V.

Về quan hệ chung: Anh chị có 01 con là Bùi Quốc Đ, sinh ngày 17/01/2017, hiện đang ở cùng chị. Ly hôn, chị đề nghị Toà án giao con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh V phái cấp dưỡng cho con. HĐXX thấy rằng, hiện anh V làm nghề tự do ở bên ngoài, thỉnh thoảng mới về, không có điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc con; chị H làm công nhân gần nhà, có thu nhập ổn định từ 8 đến 10 triệu đồng/tháng, được bố mẹ đẻ hỗ trợ về chỗ ở và trông nom, chăm sóc con, nên để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, HĐXX giao con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng; chấp nhận sự tự nguyện của chị không yêu cầu anh V phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Về quan hệ tài sản chung: Do không có yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết, nếu sau này các bên có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; các điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về…án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Bùi Quốc V.

2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Bùi Quốc Đ, sinh ngày 17/01/2017 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị H không yêu cầu anh Bùi Quốc V phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Anh Bùi Quốc V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn), được đối trừ với số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Giang theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0000362 ngày 16 tháng 5 năm 2023.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ