- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hà- Vũ Mạnh Hùng"
- Tòa quyết gì? Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Vũ Mạnh K.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST Ngày 31-3-2023 “V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Thành
Ông Nguyễn Tiến Sửu
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Quốc Khánh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Ông Phạm Quang Hảo - Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 206/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2022 về: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 206/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1996; Nơi ĐKHK: Thôn Đ, xã X, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã L, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; (có mặt);
- Bị đơn: Anh Vũ Mạnh K sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã X, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 05/12/2022 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị kết hôn với anh Vũ Mạnh K ngày 14/02/2019, trước khi cưới được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi cưới chị và anh K về chung sống cùng nhau ngay. Quá trình vợ chồng chung sống hòa thuận, hạn phúc đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, anh K thỉnh thoảng đánh đập chị. Đến tháng 10 năm 2021, chị đã làm đơn xin ly hôn anh K và đã được Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó chị rút đơn để vợ chồng về đoàn tụ. Đến ngày 08 tháng 11 năm 2022, vợ chồng chị lại tiếp tục xảy ra mâu thuẫn và chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại thôn Đ, xã L, huyện Sông Lô, vợ chồng chị sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị xin ly hôn anh K.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Vũ Hà Ninh M, sinh ngày 13/12/2019 và cháu Vũ Hồng V, sinh ngày 01/11/2021. Hiện các con đang ở với anh K. Ly hôn chị xin nuôi cháu V, để anh K nuôi cháu M. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. Hiện nay chị đang làm công nhân tại công ty Sam Sung, tỉnh Bắc Ninh, thu nhập 6.500.000đ/tháng và ở cùng bố mẹ đẻ của chị tại thôn Đ, xã L, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Vũ Mạnh K trình bày: Về thời gian kết hôn, thời gian chung sống, thời gian vợ chồng sống ly thân như chị H trình bày là đúng. Sau khi cưới vợ chồng anh về chung sống cùng nhau ngay. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 03/2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống trong mọi lĩnh vực dẫn đến thường xuyên cãi nhau và có 01 lần anh có tát chị H hai cái, còn chị H trình bày anh thường xuyên đánh đập chị H là không đúng. Chị H cũng nhiều lần bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, sau đó vợ chồng lại đoàn tụ. Đến ngày 08/11/2022, chị H tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở và vợ chồng ly thân nhau từ đó cho đến nay, anh và gia đình cũng đã nhiều lần đến nhà chị H để dàn xếp, hòa giải nhưng không được. Nay chị H xin ly hôn anh, anh xác định tình cảm vợ vẫn còn, anh không đồng ý ly hôn, anh xin đoàn tụ.
Về con chung: Anh xác nhận như chị H trình bày là đúng. Ly hôn, anh xin nuôi cả hai con và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Hiện nay làm công việc văn phòng tại Công ty TNHH Công nghiệp Strong Way, thu nhập trên 10.000.000đ/tháng và sống cùng bố mẹ đẻ của anh tại thôn Đ, xã X, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch phát biểu quan điểm về việc tuân thủ các quy định tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp luật của chị H, anh K trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, cho chị H được ly hôn anh K; đề nghị giao cho chị H trực tiếp nuôi cháu Vũ Hồng V, sinh ngày 01/11/2021; giao cho anh K trực tiếp nuôi cháu Vũ Hà Ninh M, sinh ngày 13/12/2019; các bên không phải đóng góp nuôi con chung cùng nhau; tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: không yêu cầu nên không đề nghị xem xét; án phí: chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử, xét thấy:
Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện, tài liệu kèm theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án Hôn nhân và Gia đình là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn trong vụ án là anh Vũ Mạnh K có địa chỉ cư trú tại xã X, huyện Lập Thạch nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về nội dung vụ án:
. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Mạnh K là cuộc hôn nhân tiến bộ, hợp pháp, được xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng kết hôn và đã có thời gian chung sống hòa thuận, hạnh phúc, nhưng do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không bảo ban được nhau, dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, cãi chửi nhau, không yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, vi phạm nghĩa vụ vợ chồng. Tháng 10 năm 2021, chị H làm đơn xin ly hôn anh K, được Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch thụ lý, giải quyết, sau đó chị H rút đơn để vợ chồng về đoàn tụ, nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện được cho đến tháng 11 năm 2022 vợ chồng sống ly thân nhau cho đến nay, vợ chồng và gia đình hai bên đã dàn xếp nhiều lần để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không được. Chị H xin ly hôn, anh K xin đoàn tụ.
Xét mâu thuẫn của vợ chồng của chị H và anh K đã trầm trọng, các bên đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ chồng, không quan tâm, chăm sóc nhau và làm cho cuộc hôn nhân không có hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bản thân anh K cho rằng vẫn còn tình cảm vợ chồng, xin được đoàn tụ nhưng trong suốt quá trình vợ chồng sống ly thân, vợ chồng không có biện pháp hòa giải để hàn gắn về đoàn tụ, việc anh K xin đoàn tụ chỉ nhằm mục đích kéo dài cuộc hôn nhân không có hạnh phúc. Do vậy đề nghị xin ly hôn của chị H là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần được chấp nhận.
. Về con chung: Vợ chồng chị H, anh K có 02 con chung là cháu Vũ Hà Ninh M, sinh ngày 13/12/2019 và cháu Vũ Hồng V, sinh ngày 01/11/2021. Hiện nay các cháu đang ở với anh K. Ly hôn chị H xin nuôi cháu V, để anh K nuôi cháu M, các bên không phải đóng góp nuôi con chung cùng nhau; anh K xin nuôi cả hai con không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, các đương sự đều có quyền và nghĩa vụ nuôi con chung, điều kiện nuôi con chung của các bên là như nhau, chị H, anh H đều có chỗ ở, đều có thu nhập ổn định, đều đủ khả năng nuôi con và đều có nguyện vọng nuôi con. Tuy nhiên, do cháu V còn nhỏ, chưa đủ 36 tháng tuổi nên theo quy định tại Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình cần giao cháu V cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và để đảm bảo quyền lợi của các bên về con chung cũng như đảm bảo cho sự phát triển của các con cần giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu M. Các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp quy định của pháp luật.
. Tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị H, anh K không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Vũ Mạnh K.
Về con chung: Giao cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Vũ Hồng V, sinh ngày 01/11/2021; Giao cho anh K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Vũ Hà Ninh M, sinh ngày 13/12/2019. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.
Sau khi ly hôn, các bên có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006512 ngày 05/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch. Chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể tử ngày tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Lập Thạch; - Chi cục THADS huyện Lập Thạch; - UBND xã X, huyện Lập Thạch; - Các đương sự; - Lưu: HS, VP.NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Nga |