- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST Ngày: 13-3-2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Phường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Đông và bà Trần Thuý Nga
Thư ký phiên tòa: Ông Quách Kim Lân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phước - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 529/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn: Chị Hoàng Thị Bích T, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
(Anh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12-8-2022, các lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Cường, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 31/12/2001.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi, chị T không chăm lo cho con và gia đình. Nay anh H nhận thấy không còn tình cảm với chị T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hoàng Thị Bích T.
Về con: Theo anh H, anh và chị T có 02 người con chung Nguyễn Hoàng Vi An D, sinh ngày 28-11-2002 và Nguyễn Hoàng Phương A, sinh ngày 03-6-2010. Khi ly hôn anh H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cháu Phương A, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung cháu D hiên nay đã thành niên, có khả năng lao động nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Theo anh H, vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Theo anh H, vợ chồng không có nợ chung.
Do bận công việc, không thể sắp xếp được thời gian để tham gia phiên tòa, nên anh H đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án.
Bị đơn chị Hoàng Thị Bích T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng quá trình giải quyết vụ án không có văn bản trình bày ý kiến, không giao nộp tài liệu chứng cứ, đồng thời vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.
Để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa vợ chồng anh H và chị T, kết quả xác minh như sau:
Anh H và chị T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo qui định, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại ấp Thái Hoà, xã Phú Túc. Anh H, chị T chung sống đến thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân cụ thể thì ban ấp không rõ, nhưng nghe nói tính tình không hợp nhau nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Anh H, chị T có 02 người con chung Nguyễn Hoàng Vi An D, sinh ngày 28-11-2002 và Nguyễn Hoàng Phương A, sinh ngày 03-6-2010, hiện nay cháu D đã thành niên còn cháu Anh do anh H nuôi dưỡng, cháu phát triển bình thường, khoẻ mạnh.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các hoạt động tố tụng về xác định quan hệ pháp luật, về tư cách tham gia tố tụng của đương sự, về thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu theo thẩm quyền, thủ tục giao, gửi, cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và người tham gia tố tụng tất cả đều đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các phần của phiên tòa sơ thẩm. Thư ký phiên tòa thực hiện đúng và đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định. Nguyên đơn thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về đường lối giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị cho anh Nguyễn Văn H được ly hôn với chị Hoàng Thị Bích T. Về con: Đề nghị giao con chung Nguyễn Hoàng Phương A, sinh ngày 03-6-2010 cho anh H nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh H không có yêu cầu, đối với cháu D đã thành niên, có khả năng lao động nên anh H không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Đề nghị không xem xét. Về án phí: anh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
Về thủ tục quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn H khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với chị Hoàng Thị Bích T, vì vậy quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong vụ án này được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chị T có nơi cư trú tại: Ấp Thái Hoà, xã Phú Túc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Định Quán theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự có mặt của các đương sự: Nguyên đơn anh H vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn chị T, đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị T xác lập ngày 31-12-2001 (thời điểm Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực). Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, áp dụng các điều khoản của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Cường, huyện Định Quán, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 31-12-2001. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
Nguyên đơn anh H yêu cầu ly hôn với lý do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi, chị T không chăm lo cho con và gia đình. Lời khai của nguyên đơn về mâu thuẫn vợ chồng phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án, có đủ cơ sở xác định: Quá trình sống chung, vợ chồng anh H và chị T đã không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng. Có căn cứ để xác định, hôn nhân giữa anh H và chị T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, thì yêu cầu ly hôn của anh H đối với chị T là có cơ sở chấp nhận.
Đối với bị đơn chị T, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho bị đơn, nhưng bị đơn cố tình không đến Tòa án làm việc, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ, từ bỏ quyền của đương sự; điều này cũng thể hiện, chị T không mong muốn được hòa giải đoàn tụ gia đình với anh H.
Về con chung: Anh H và chị T có 02 người con chung tên Nguyễn Hoàng Vi An D, sinh ngày 28-11-2002 và Nguyễn Hoàng Phương A, sinh ngày 03-6-2010. Khi ly hôn anh H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị T cấp dưỡng. Xét thấy, từ khi ly thân con chung cháu Anh sống cùng anh H, do anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy để không xáo trộn đời sống của con trẻ cần tiếp tục giao con chung cháu Anh H nuôi dưỡng, hơn nữa yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với nguyện vọng của con, mong muốn được sống cùng mẹ. Do đó, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của anh H, về việc được nuôi dưỡng con chung theo quy định tại Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Ạnh H không yêu cầu chị T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với con chung Nguyễn Hoàng Vi An D hiện nay đã thành niên, anh H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết
Về tài sản: Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Anh H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, do đó anh H phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các điều 11, 89, 91, 92, 93, 94 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; khoản 1 Điều 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với chị Hoàng Thị Bích T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H được ly hôn với chị Hoàng Thị Bích T.
2. Về con: Giao con chung Nguyễn Hoàng Phương A, sinh ngày 03-6-2010 cho anh H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời chị T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh H không yêu cầu.
Chị Hoàng Thị Bích T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản: Tòa án không xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) anh H đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0004034 ngày 19-12-2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Anh H đã nộp đủ án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - VKSND huyện Định Quán; - Chi cục THA huyện Định Quán; - Các đương sự (để thi hành); - UBND xã Phú Cường (GCNKH số 101/2001, ngày 31-12-2001) (để ghi vào sổ hộ tịch). - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cẩm Phường |