vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Ngọc L ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 30 tháng 4 năm 2016 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 (Một triệu) đồng; thời gian cấp dưỡng được tính kể từ ngày Tòa án xét xử đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chị L có quyền, nghĩa vụ thă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L-T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Ngọc L ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15/3/2023
V/v ly hôn giữa chị L và anh T

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Tuấn Anh

Bà Lý Thị Trúc Linh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kinh Luân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Hiền Diệu – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 588/2022/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXX-ST ngày 06 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ngọc L, sinh năm 1994;

Nơi cư trú: ấp A , xã S, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1980;

Nơi cư trú: ấp Z, xã X, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Chị L và anh T vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, lời trình bày tại các biên bản trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Hoàng T tự nguyện kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre vào

Trang 1

ngày 18/3/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng có bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau; vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Những mâu thuẫn này kéo dài nhưng cả hai không thể khắc phục nên từ năm 2018 đến nay chị và anh T đã sống ly thân. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Chị và anh T đều có công việc và thu nhập ổn định nên không yêu cầu xem xét đến việc cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 30 tháng 4 năm 2016; con chung đang sống với anh T. Sau khi ly hôn, chị đồng ý để anh T được trực tiếp nuôi con chung, chị sẽ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh T không có tài sản chung, không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do chị bận công việc làm ăn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt chị.

Theo lời trình bày tại bản tự khai ngày 16/01/2023, bị đơn anh Nguyễn Hoàng Ttrình bày:

Về hôn nhân: Anh thừa nhận thời gian anh và chị Trần Thị Ngọc L kết hôn, thời gian đăng ký kết hôn và thời gian chung sống như chị L trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng có bất đồng về quan điểm trong cuộc sống. Từ năm 2017 đến nay, anh và chị L đã sống ly thân. Đến nay thì chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 30 tháng 4 năm 2016; con chung đang sống với anh. Sau khi ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, anh yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh và chị L không có tài sản chung, không có nợ chung.

Do anh bận công việc làm ăn nên anh không tham gia phiên tòa.

Tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ theo quy định của pháp luật; riêng bị đơn không tuân thủ theo quy định của pháp luật. Về nội

Trang 2

dung: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh T kéo dài đã nhiều năm nhưng anh chị không tự khắc phục được. Trong suốt quá trình tố tụng, anh Thân vắng mặt; điều đó cho thấy anh T không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nên có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh T đã trầm trọng, hôn nhân có kéo dài cũng không hạnh phúc nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Về con chung, có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 30 tháng 4 năm 2016; chị L đồng ý giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, từ khi chị L và anh T ly thân thì anh T là người trực tiếp nuôi con chung; để đảm bảo không làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của con chung nên đề nghị Tòa án giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng; chị L chịu trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 (một triệu) đồng. Về tài sản chung và nợ chung chị L và anh T xác định là không có nên đề nghị Tòa án ghi nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên Tòa và căn cứ vào đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa chị Trần Thị Ngọc L và anh Nguyễn Hoàng T là tranh chấp về ly hôn, bị đơn anh T có nơi cư trú tại xã X, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải nhiều lần nhưng bị đơn anh T vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án đã tiến hành lập biên bản không hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự và đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn anh T vẫn vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2; chị L có đơn xin vắng mặt. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị L và anh T.

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc L và anh Nguyễn Hoàng T kết hôn vào năm 2015, hôn nhân do anh chị tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tam Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre vào ngày 18/3/2015 (số 22/2015) nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Chị L xác định nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do cả hai có bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau. Từ năm 2018 đến nay, vợ chồng đã sống ly thân. Tại biên bản xác minh của Tòa án cũng xác định được anh T và chị L đã ly thân khoảng 05 năm nay.

Trang 3

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần mở phiên hòa giải để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh Thân không tham gia phiên hòa giải; điều đó cho thấy, anh T không có thiện chí mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Từ đó có cơ sở để xác định, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì quan hệ hôn nhân này sẽ ảnh hưởng đến đời sống bình thường của các thành viên trong gia đình nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L.

Về con chung: Chị L và anh T có 01 người con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 30 tháng 4 năm 2016; con chung đang sống chung với anh T. Chị L và anh T cùng thống nhất giao anh T trực tiếp nuôi con chung và chị L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 (Một triệu) đồng. Xét thỏa thận này của chị L và anh T là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L và anh T cùng xác định tài sản chung và nợ chung không có nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: Chị L phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng và án phí cấp dưỡng là 300.000đồng.

Từ những nhận định nêu trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 147, 207, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Ngọc L ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 30 tháng 4 năm 2016 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 (Một triệu) đồng; thời gian cấp dưỡng được tính kể từ ngày Tòa án xét xử đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Trang 4

Chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị L và anh T cùng xác định là không có nên Tòa án ghi nhận.

4. Về án phí: Chị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng và án phí cấp dưỡng là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010712 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Chị L còn phải nộp thêm số tiền là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

5. Chị Linh, anh Thân vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

6. Bản án này được thi hành theo qui định tại điều 02 của Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được qui định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ