vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Vềquan hệhôn nhân:Chị Trần ThịThùy T đượcly hônanh Nguyễn NgọcH.

Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Thùy T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Bảo B, sinh ngày 27/12/2016, anh Nguyễn Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị T. Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở, gây khó khăn. Về án ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Vềquan hệhôn nhân:Chị Trần ThịThùy T đượcly hônanh Nguyễn NgọcH.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂNDÂN
HUYỆN BÌNH XUYÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST
Ngày 14 tháng 8 năm 2023
“V/v tranh chấp Hôn nhân và
gia đình”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Vân Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Trương Thị Hương Nghĩa;

- Ông Nguyễn Hữu Thuần.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Trang, Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Quân, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 08 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 124/2023/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thùy T, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1996; địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Hiện đang chấp hành án tại đội 24, phân trại 1, Trại giam Vĩnh Quang đóng trên địa bàn xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 31/3/2023 và những lời khai trong quá trình làm việc, nguyên đơn chị Trần Thị Thùy T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Ngọc H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 12 tháng 12 năm 2016. Sau khi kết hôn chị T về chung sống cùng gia đình anh H tại Khu phố 2, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Trong quá trình chung sống ban đầu tình cảm vợ chồng bình thường sau đó đến khoảng tháng 1 năm 2017 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H chơi bời nghiện ma túy, chị khuyên bảo nhiều lần không nghe đến khoảng tháng 10 năm 2022 anh H bị bắt về tội mua bán trái phép chất ma túy và hiện đang chấp hành án tại trại giam Vĩnh Quang đóng trên địa bàn thuộc xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Hai vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay không quan tâm gì đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, chị xin được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Bảo B, sinh ngày 27/12/2016. Ly hôn chị xin nuôi con và không đề nghị anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Phía bị đơn là anh Nguyễn Ngọc H vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại bản tự khai và đơn đề nghị giải quyết vắng mặt anh trình bày và xác nhận: Anh thừa nhận về thời gian kết hôn, quá trình vợ chồng chung sống cũng như nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng như chị T trình bày là đúng. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị T làm đơn xin ly hôn, anh đồng ý.

Về con chung: Anh thừa nhận vợ chồng có 01 con chung như chị T trình bày là đúng. Ly hôn anh đồng ý để chị T nuôi con. Anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ, đất canh tác và công sức: Các đương sự đều không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56 , 81,82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Trần Thị Thùy T được ly hôn anh Nguyễn Ngọc H. Về con chung: giao cháu Nguyễn Ngọc Bảo B, sinh ngày 27/12/2016 cho chị Trần Thị Thùy T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về các vấn đề khác: không yêu cầu không xem xét giải quyết.Về án phí: Chị Tphải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị Thùy T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Ngọc H, anh H hiện đang cư trú tại Khu phố 2, thị trấn Hương Canh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, xác định đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tung dân sự

Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Trần Thị Thùy T và anh Nguyễn Ngọc H kết hôn với nhau ngày 12 tháng 12 năm 2016 trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn do luật định nên quan hệ hôn nhân này là hợp pháp. Trong quá trình chung sống tình cảm vợ chồng ban đầu bình thường sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh H chơi bời, nghiện ma túy và hiện đang đi chấp hành án phạt tù tại trại giam. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhhân không đạt được. Nay cả hai đều xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên đều đồng ý ly hôn. Do vậy, xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị Trang đối với anh H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị T và anh H đều thừa nhận họ có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Bảo B, sinh ngày 27/12/2016 (Hiện đang ở cùng chị T). Ly hôn chị T xin nuôi con và không đề nghị anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Ly hôn anh H đồng ý để chị T nuôi con và anh không phải cáp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy anh H hiện đang đi chấp hành án phạt tù, chị T làm tự do ở nhà nên cần giao cháu B cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Hơn nữa cháu B còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Vì vậy, cần giao cháu B cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản, công nợ, công sức và đất canh tác: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1.Vềquan hệhôn nhân:Chị Trần ThịThùy T đượcly hônanh Nguyễn NgọcH.

2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Thùy T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Bảo B, sinh ngày 27/12/2016, anh Nguyễn Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị T. Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở, gây khó khăn.

3.Về án phí: Chị Trần Thị Thùy T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm nhưng được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000018 ngày 12 tháng 04 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên.

4.Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ