- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp về nuôi con giữa Bùi Thanh Th và Vương Hoàng D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thanh Th đối với anh Vương Hoàng D về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST Ngày: 18-5-2023 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Xuyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Độ;
Ông Nguyễn Long Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 350/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2022 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thanh Th, sinh năm 1986; cư trú tại: ấp L, xã N, huyện B, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Bị đơn: Anh Vương Hoàng D, sinh năm 1977; cư trú tại: ấp L, xã N, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 12 tháng 12 năm 2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Bùi Thanh Th trình bày:
Về hôn nhân: chị Th và anh D tổ chức đám cưới năm 2003, có đăng ký kết hôn ngày 28 tháng 7 năm 2004 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C (nay là huyện B), tỉnh Bình Dương; hôn nhân tự nguyện.
Chị và anh chung sống hạnh phúc, cũng có mâu thuẫn nhưng không lớn. Đến năm 2017, khi chị sinh con thứ hai thì mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Anh D thường xuyên say rượu rồi gây sự, chửi mắng vợ con, có vài lần anh D còn đánh chị. Anh D còn là người gia trưởng, không phụ giúp chị công việc gia đình, không quan tâm tinh thần của vợ con; kinh tế gia đình cũng một mình chị quán xuyến. Chị đã khuyên anh D nhiều lần nhưng anh D không thay đổi. Nay chị nhận thấy vợ chồng không còn hạnh phúc, dù ở chung nhà nhưng vợ chồng đã ly thân khoảng gần một năm nay. Vì vậy chị yêu cầu ly hôn anh D.
Về nuôi con chung: quá trình chung sống, chị và anh D có hai con chung tên Vương Thị Thanh Ng, sinh ngày 24 tháng 6 năm 2005 và Vương Thanh S, sinh ngày 26 tháng 12 năm 2017. Chị yêu cầu được nuôi hai con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng.
Về chia tài sản và nợ chung: chị Th không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Vương Hoàng D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng anh D đều vắng mặt không lý do. Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh D.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án: quá trình giải quyết vụ án, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng nhận định:
Về tố tụng: bị đơn anh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh D.
Về yêu cầu của nguyên đơn:
Về hôn nhân: hôn nhân của chị Th và anh D là hôn nhân hợp pháp. Chị Th khai: quá trình chung sống vợ chồng rất hạnh phúc, dù có mâu thuẫn nhưng không lớn. Đến năm 2017, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân do anh D thường xuyên say rượu rồi gây sự, chửi mắng vợ con, có vài lần còn đánh chị. Anh D là người gia trưởng; không phụ giúp chị từ công việc nhà đến kinh tế gia đình, mọi chuyện trong gia đình một mình chị quán xuyến. Vì vậy, chị và anh D không có tiếng nói chung, không còn yêu thương nhau nên chị Th khởi kiện yêu cầu ly hôn anh D theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Xét thấy, chị Th và anh D là vợ chồng nhưng không còn yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau là không giữ gìn tình nghĩa vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Anh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh D bỏ mặc không tham gia tố tụng, không trình bày ý kiến tại Tòa đối với yêu cầu ly hôn của chị Th. Nhận thấy hôn nhân của chị Th và anh D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Th, quyết định cho chị Th và anh D ly hôn.
Về nuôi con chung: chị Th và anh D có hai con chung tên Vương Thị Thanh Ng và Vương Thanh S. Chị yêu cầu được nuôi hai con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng. Xét cháu Ng đã gần tròn 18 tuổi và có nguyện vọng ở với chị Th; cháu S thì chưa đủ 07 tuổi. Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu Ng và cháu S, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Th, theo đó anh D có trách nhiệm giao cháu Ng và cháu S cho chị Th trực tiếp nuôi theo quy định khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Chị Th không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và giải quyết về cấp dưỡng khi có yêu cầu theo quy định tại Điều 84, Điều 107 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về chia tài sản và nợ chung: chị Th và anh D không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án là phù hợp.
Về án phí: chị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 84, Điều 107 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thanh Th đối với anh Vương Hoàng D về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con.
Về hôn nhân: cho chị Bùi Thanh Th ly hôn anh Vương Hoàng D.
Về nuôi con chung: anh Vương Hoàng D có trách nhiệm giao hai con chung tên Vương Thị Thanh Ng, sinh ngày 24 tháng 6 năm 2005 và Vương Thanh S, sinh ngày 26 tháng 12 năm 2017 cho chị Bùi Thanh Th trực tiếp nuôi. Chị Bùi Thanh Th không yêu cầu anh Vương Hoàng D cấp dưỡng nuôi con.
Anh Vương Hoàng D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và giải quyết về cấp dưỡng khi có yêu cầu.
Về chia tài sản và nợ chung: chị Bùi Thanh Th và anh Vương Hoàng D không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: chị Bùi Thanh Th phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Bùi Thanh Th đã nộp theo biên lai số AA/2021/0009560 ngày 21 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bình Dương. Chị Bùi Thanh Th đã nộp xong án phí.
3. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Bàu Bàng; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện B; - UBND xã N, huyện B (Giấy CNKH số 130, quyển số 01/2004, đăng ký ngày 28/7/2004); - Đương sự; - Cổng thông tin điện tử TAND (nếu có); - Lưu: hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Kim Xuyến |