vanban.org

Bản án 22/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị chị Trần Thị L và anh Đặng Thanh T.

Về con chung: Chị L và anh T thống nhất xác định có 01 con chung tên Trần Thị Thảo M, sinh ngày 17/12/2008. Cháu M có nguyện vọng được sống với mẹ là chị L. Chị L và anh T thống nhất thỏa thuận giao cháu M cho chị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận sự tự … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị chị Trần Thị L và anh Đặng Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HNGĐ-ST
Ngày 02 - 3 -2023.
V/v Ttranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thị Gấm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Minh Hằng và bà Nguyễn Ngọc Duyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt –Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 230/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 1987;

Địa chỉ: Ấp K, xã T Q, huyện G Q, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Đặng Thanh T, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Ấp C, xã H Y, huyện A B, tỉnh Kiên Giang.

(Chị L và anh T vắng mặt tại phiên tòa và đều có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Trần Thị L trình bày như sau:

Chị L và anh T chung sống với nhau từ năm 2007, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, tuy nhiên anh chị không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng chung sống đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống khiến cho cuộc sống gia đình không hạnh phúc, hai bên thường xuyên cự cải bất hòa, hai bên đã hàn gắng nhiều lần để chung sống nhưng vẫn không dung hòa với nhau được, vợ chồng ly thân từ cuối năm 2017 đến nay.

Về quan hệ hôn nhân: Chị L yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân với anh T.

Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thị Thảo M, sinh ngày 17/12/2008, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về người khác nợ lại vợ chồng: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị L không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Bị đơn anh Đặng Thanh T có ý kiến nhƣ sau:

Anh T thống nhất với lời trình bày của chị L về thời gian chung sống, hai vợ chồng có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương và không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, theo yêu cầu của chị L, thì anh T đồng ý chấm dứt quan hệ hôn nhân với chị L.

Về con chung: Có 01 Trần Thị Thảo M, sinh ngày 17/12/2008, đồng ý giao cháu Thảo M cho chị L nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về người khác nợ lại vợ chồng: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh T không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Qua yêu cầu khởi kiện và ý kiến của các đƣơng sự đã thống nhất với nhau các vấn đề sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L và anh Đặng Thanh T thống nhất chấm dứt quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Chị L và anh T thống nhất xác định có 01 con chung tên Trần Thị Thảo M, sinh ngày 17/12/2008 (Cháu M có nguyện vọng sông với mẹ là chị L), chị L và anh T thống nhất thỏa thuận giao con cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Chị L và anh T thống nhất xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay: Chị L và anh T đều vắng mặt, nên không ghi nhận ý kiến.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký, các bên đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Xét thấy yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng của chị L đối với anh T là có căn cứ chấp nhận theo khoản 1 Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình. Về con chung: Giao cháu Trần Thị Thảo M, sinh ngày 17/12/2008 (Theo nguyện vọng cháu M) cho chị L tiếp tục nuôi nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến tuổi trưởng thành, ghi nhận việc chị L không yêu cầu anh T cắp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị L xin ly hôn với anh T, các đương sự có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi vụ án được thụ lý, Tòa án đã giao các văn bản tố tụng cho các đương sự, tiến hành lập biên bản công khai chứng cứ và hòa giải, do các đương sự không có đăng ký kết hôn nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Chị L và anh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị L và anh T.

Về quan hệ hôn nhân:

Xét yêu cầu ly hôn của chị L, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị L và anh T đều thống nhất xác nhận là hai anh chị chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và không có đăng ký kết hôn tại theo quy định pháp luật, trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa thì anh chị đều thống nhất chấm dứt quan hệ vợ chồng, chị L và anh T đã cung cấp giấy xác nhận chưa đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H Y, huyện A B, tỉnh Kiên Giang và xã Thới Quản, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 14 và Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thống nhất tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Trần Thị L và anh Đặng Thanh T.

Về con chung: Chị L và anh T thống nhất xác định có 01 con chung tên Trần Thị Thảo M, sinh ngày 17/12/2008. Cháu M có nguyện vọng sông với mẹ là chị L. Chị L và anh T thống nhất giao cháu M cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành.Chị L và anh T thống nhất thỏa thuận anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ: Chị L và anh T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị L phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát huyện An Biên tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận, nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 14, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 144, Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị chị Trần Thị L và anh Đặng Thanh T.

2. Về con chung: Chị L và anh T thống nhất xác định có 01 con chung tên Trần Thị Thảo M, sinh ngày 17/12/2008. Cháu M có nguyện vọng được sống với mẹ là chị L. Chị L và anh T thống nhất thỏa thuận giao cháu M cho chị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Anh T không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai đươc ngăn cản, tuy nhiên anh T không được lạm dụng quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ: Chị L và anh T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Trần Thị L có nghĩa vụ nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0003622 ngày 26 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy chị Trần Thị L đã nộp xong án phí.

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, chị L và anh T vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ